Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu

Luận văn thạc sĩ phân tích ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo hải châu, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2008

145
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH

1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.3. VAI TRÒ CỦA NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.4. CÁC TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG GIAI ĐOẠN VỪA QUA

2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

2.2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.2.1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

2.2.1.1. ĐẶC ĐIỂM VỀ SẢN PHẨM BÁNH KẸO
2.2.1.2. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG BÁNH KẸO VIỆT NAM

2.2.2. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

2.2.2.1. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ THEO CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM
2.2.2.2. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM THEO KHU VỰC THỊ TRƯỜNG
2.2.2.3. TÌNH HÌNH TIÊU THỤ THEO THỜI GIAN
2.2.2.4. CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

2.2.3. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU SO VỚI CÁC CÔNG TY BÁNH KẸO KHÁC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.3.1. CÔNG TY TNHH CHẾ BIẾN THỰC PHẨM KINH ĐÔ
2.2.3.2. CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
2.2.3.3. CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN

2.2.4. HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1. THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.2. NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.2.1. MỞ RỘNG LIÊN KẾT VỚI CÁC CÔNG TY BÁNH KẸO KHÁC Ở VIỆT NAM ĐỂ HỖ TRỢ NHAU TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.2.2. XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH LÂU DÀI ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

3.2.2.1. CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM
3.2.2.2. CHIẾN LƯỢC GIẢM THIỂU CHI PHÍ
3.2.2.3. CHIẾN LƯỢC CHUYÊN BIỆT HOÁ SẢN PHẨM
3.2.2.4. CHIẾN LƯỢC THỊ TRƯỜNG NGÁCH VỚI CÁC NHÓM KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU CÓ THỂ NẮM BẮT VÀ PHÂN TÍCH ĐƯỢC ĐỘNG THÁI CỦA SỰ THAY ĐỔI
3.2.2.5. CHIẾN LƯỢC MARKETING
3.2.2.6. CHIẾN LƯỢC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
3.2.2.7. CHIẾN LƯỢC CON NGƯỜI
3.2.2.8. CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ QUẢNG CÁO CHO THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM
3.2.2.9. CHIẾN LƯỢC VỐN

3.3. XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG TY TRỞ THÀNH MỘT LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

3.4. NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THÔNG QUA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NGƯỜI LAO ĐỘNG

3.4.1. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

3.4.2. CHÚ TRỌNG TỚI VIỆC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN VỚI CHI PHÍ THẤP

3.5. ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀO KINH DOANH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

3.5.1. THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

3.5.2. ỨNG DỤNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

3.5.3. PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

3.6. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU

3.6.1. ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

3.6.2. NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ

3.6.3. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

3.6.4. HIỆN ĐẠI HOÁ HỆ THỐNG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CỦA DOANH NGHIỆP

3.6.5. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

3.6.6. UY TÍN CỦA DOANH NGHIỆP

3.6.7. PHÁT TRIỂN THỊ PHẦN CỦA DOANH NGHIỆP

3.6.8. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC

3.6.8.1. HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP
3.6.8.2. XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH THUẬN LỢI VÀ BÌNH ĐẲNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty bánh kẹo Hải Châu

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một yếu tố sống còn cho sự phát triển bền vững của công ty bánh kẹo Hải Châu. Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh, việc cải thiện năng lực cạnh tranh không chỉ giúp công ty tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ hơn. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và đề xuất các giải pháp cụ thể.

1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh trong ngành bánh kẹo

Năng lực cạnh tranh của công ty bánh kẹo Hải Châu được định nghĩa là khả năng duy trì và mở rộng thị phần trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt. Điều này bao gồm việc cải thiện chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý và dịch vụ khách hàng tốt.

1.2. Tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh không chỉ ảnh hưởng đến doanh thu mà còn quyết định sự tồn tại của công ty trong thị trường. Công ty cần phải có chiến lược rõ ràng để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

II. Thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bánh kẹo Hải Châu

Công ty bánh kẹo Hải Châu đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Những thách thức này bao gồm sự gia tăng cạnh tranh từ các công ty khác, thay đổi trong nhu cầu của khách hàng và áp lực từ các quy định pháp lý. Việc nhận diện và giải quyết những thách thức này là rất quan trọng.

2.1. Cạnh tranh từ các công ty khác

Sự gia tăng số lượng công ty bánh kẹo trên thị trường đã tạo ra áp lực lớn cho Hải Châu. Các công ty mới thường áp dụng công nghệ hiện đại và chiến lược marketing hiệu quả hơn, khiến Hải Châu cần phải cải thiện để không bị tụt lại phía sau.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu của khách hàng

Khách hàng ngày càng có yêu cầu cao hơn về chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm. Công ty cần phải nắm bắt xu hướng tiêu dùng và điều chỉnh sản phẩm của mình cho phù hợp với nhu cầu thị trường.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty bánh kẹo Hải Châu

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, công ty bánh kẹo Hải Châu cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Những phương pháp này bao gồm cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển chiến lược marketing hiệu quả.

3.1. Cải tiến quy trình sản xuất

Cải tiến quy trình sản xuất giúp giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến kỹ thuật sẽ giúp công ty tăng năng suất lao động và giảm thiểu lãng phí.

3.2. Nâng cao chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng. Công ty cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để cải thiện chất lượng sản phẩm, từ đó tạo ra sự khác biệt so với đối thủ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại công ty bánh kẹo Hải Châu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại kết quả tích cực cho công ty bánh kẹo Hải Châu. Doanh thu và thị phần của công ty đã tăng trưởng đáng kể trong thời gian qua.

4.1. Kết quả từ việc cải tiến quy trình sản xuất

Việc cải tiến quy trình sản xuất đã giúp công ty giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Điều này đã tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt trên thị trường.

4.2. Tăng trưởng doanh thu và thị phần

Doanh thu của công ty đã tăng trưởng ổn định trong những năm qua, nhờ vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Thị phần của công ty cũng đã được mở rộng, cho thấy sự thành công trong chiến lược phát triển.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công ty bánh kẹo Hải Châu

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh là cần thiết và cấp bách đối với công ty bánh kẹo Hải Châu. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.

5.1. Đổi mới công nghệ và sản phẩm

Công ty cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ mới và phát triển sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Việc này sẽ giúp công ty duy trì vị thế cạnh tranh.

5.2. Mở rộng thị trường và phát triển thương hiệu

Mở rộng thị trường và phát triển thương hiệu là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Công ty cần xây dựng chiến lược marketing hiệu quả để tiếp cận khách hàng mới.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo hải châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh 1.1 Cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia… - Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[12]. - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất [21]. - Theo từ điển kinh doanh: (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình [31].

- Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002 thì định nghĩa cạnh tranh đối với quốc gia là: Khả năng cạnh tranh của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là 6 đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian [27]. - Cạnh tranh sẽ đem lại lợi ích cho người này và sự thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực (chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn v.) - Trong quan hệ kinh tế cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những chủ thể trong việc thực hiện sản phẩm, dịch vụ nhằm chiếm lĩnh thị trường ở mức cao nhất, giành điều kiện tiêu thụ có lợi nhất và tối đa hoá lợi nhuận [19]. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra được các điểm chung sau đây: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.

Cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường, hiện nay cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản và cạnh tranh lấy qui luật giá trị làm tiền đề. Tác động của qui luật giá trị trong việc kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, đào thải cái lạc hậu dựa trên cơ sở công bằng đó là sự trao đổi ngang giá.

Trong điều kiện đó, muốn có nhiều lợi nhuận các chủ thể kinh tế phải đua nhau đổi mới khâu tổ chức quản lý, đua nhau cải tiến kỹ thuật, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới 7 vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động, giảm hao phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận cao hơn các chủ thể kinh tế khác. Để thắng được trong cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất sản phẩm phải nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình. Năng lực cạnh tranh: Trong môi trường cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.

Sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh. Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế[27]. Theo dự án VIE/025: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước[27]. Những quan niệm trên cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên hai tiêu chí chủ yếu là thị phần và lợi nhuận.

Những tiêu chí này chỉ đánh giá trạng thái “tĩnh” của ngành (doanh nghiệp hoặc sản phẩm) trong một thời điểm, trong khi đó cạnh tranh là một quá trình mang tính “động”, vì vậy khi phân tích cạnh tranh, người ta thường bổ sung vào một số yếu tố “động” khác như mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, vòng đời sản 8 phẩm v. Trên cơ sở phân tích này, các nhà kinh doanh có thể đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường để duy trì và phát huy vị thế của mình trên thị trường hoặc đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra. Một chủ thể có sức cạnh tranh cao là chủ thể có lợi thế, biết tạo ra lợi thế để thu được lợi nhuận cao hơn so với các chủ thể khác. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.), (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.), (3) điều tra xã hội học, chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.

Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường, tại cùng thời điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ. Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh.2 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực. 9 Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường, khi cung một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ giá thành sản phẩm mới có thể tồn tại.

Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất. Khi cung một hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trường, giá cả tăng lên tạo lợi nhuận cao hơn mức bình quân, khi đó người sản xuất kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội. Điều quan trọng là động lực đó hoàn toàn tự nhiên, không theo và không cần bất kỳ một mệnh lệnh chính nào của cơ quan quản lý Nhà nước [13].

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, điều đó được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau: - Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho các nước khả năng tiếp cận các nguồn đầu tư, các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển nền kinh tế. Nền kinh tế trở nên nhạy cảm hơn với những biến động của thị trường thế giới, nếu mỗi quốc gia không xây dựng được đường lối hội nhập chủ động, không tích luỹ đủ khả năng kháng cự thì sẽ khó tránh khỏi những tác động tiêu cực mà toàn cầu hoá mang lại, trước tình hình đó doanh nghiệp nào có sức kháng tốt thì sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu kém thì sẽ bị tiêu diệt, do đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều kiện tất yếu để các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển [15]. 10 - Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các doanh nghiệp đang phải đối mặt với các đối thủ ngày càng lớn, mạnh hơn trên nhiều phương diện, từ tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ - kỹ thuật, kinh nghiệm cạnh tranh trên thương trường, cuộc cạnh tranh diễn ra trong bối cảnh quốc tế không ổn định, khó dự đoán, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt do đó đòi hỏi doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ