CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm và phân loại về cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh được xem là khái niệm và chủ đề đã được nhiều tác giả nghiên cứu trong các lĩnh vực như kinh tế - xã hội.
Lý thuyết về cạnh tranh cũng được đề cập và nghiên cứu từ lâu bởi các nhà nghiên cứu nổi tiếng, một số lý thuyết điển hình như: cổ điển, tân cổ điển, hiện đại. Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh ngày càng được nhắc đến nhiều hơn và được coi là con đường để doanh nghiệp có được chỗ đứng và phát triển. Tuy nhiên, cho đến hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về cạnh tranh. Theo Karl Marx (2004) cho rằng: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa chính là sự đấu tranh, cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản với nhau nhằm giành sự thuận lợi trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm hàng hóa để thu về lợi nhuận”.
Marx cũng đã đề cập đến cạnh tranh ở một khía cạnh hẹp trong chủ nghĩa tư bản. Cạnh tranh được thể hiện ở sự chèn ép, lấn át lẫn nhau để tồn tại, và cạnh tranh được khai thác ở khía cạnh tiêu cực. Theo Michael Porter (1990): “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi”. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (1996) cho rằng: “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia hay khu vực trong việc tạo ra công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập trong cạnh tranh quốc tế”. Theo tác giả thì đây khái niệm phù hợp nhất vì nó được sử dụng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia, phản ánh được mối liên hệ giữa cạnh tranh của các doanh nghiệp với cạnh tranh quốc 11 gia, giúp tăng về thu nhập, tạo việc làm và tăng mức sống cho người dân. Như vậy có thể kết luận cạnh tranh chính là mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường với nhau, cùng chung một mục tiêu là hướng tới đa dạng hóa lợi nhuận.
Cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn. Phân loại cạnh tranh Hiện nay phân loại cạnh tranh có khá nhiều tiêu chí phân loại khác nhau. Theo Vũ Trọng Lâm (2006) thì cạnh tranh có thể phân loại thành những loại như sau: - Theo phạm vi của ngành kinh tế: Cạnh tranh trong nội bộ của ngành: Đây chính là hình thức các doanh nghiệp cùng ngành với nhau, cùng lĩnh vực với nhau cạnh tranh về cùng một loại hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm. Các doanh nghiệp yếu kém hơn có thể phá sản, thu hẹp về quy mô, và các doanh nghiệp mạnh sẽ mở rộng quy mô và chiếm ưu thế trong ngành.
Vấn đề cạnh tranh trong ngành khó tránh khỏi và mục tiêu của các doanh nghiệp là hướng tới tìm kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Cạnh tranh giữa các ngành khác nhau: Đây là hình thức cạnh tranh về địa vị, lợi nhuận giữa các chủ doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm dịch vụ, hàng hóa khác nhau. Với sự cạnh tranh này dễ dàng dẫn tới việc điều chuyển vốn đầu tư sang những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao và hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân của ngành. - Theo mức độ cạnh tranh Cạnh tranh hoàn hảo: Thị trường được xem là cạnh tranh hoàn hảo là khi có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia bán sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa với chủng loại, kỹ thuật, thông số, chất lượng tương đồng nhau.
Lúc này giá bán phụ thuộc vào tình hình cung cầu của thị trường. Các doanh nghiệp có thể chủ động tham gia hoặc rời bỏ thị trường một cách thoải mái. Do vậy các doanh nghiệp tham gia thị trường này muốn tối đa hóa lợi nhuận cần đầu tư, cải tiến về công nghệ, kiểm soát chi phí đầu 12 vào đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Cạnh tranh không hoàn hảo: Đây được xem là thị trường cạnh tranh đang khá phổ biến trong bối cảnh hiện tại.
Quyền lực thị trường thuộc về một số ít doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh quy mô lớn. Các doanh nghiệp trong thị trường này bán các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau. Sự khác biệt giữa các loại hàng hóa và dịch vụ này là nhãn hiệu. Các hình thức của cạnh tranh không hoàn hảo là độc quyền, độc quyền tập đoàn.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Khái niệm về năng lực cạnh tranh không chỉ được sử dụng để chỉ việc cạnh tranh giữa các sản phẩm dịch vụ giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp mà còn là cạnh tranh mang tính quốc tế, tầm cỡ quốc gia. Thời gian qua, khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng nhận được sự quan tâm từ các nhà chính trị, nhà nghiên cứu, chủ doanh nghiệp, doanh nhân và Chính phủ. Tuy nhiên, tới thời điểm hiện tại chưa có khái niệm nào thống nhất, điển hình được biết đến phổ biến như sau: Theo Porter (1990): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một doanh nghiệp, tổ chức, địa phương hay quốc gia có thể cạnh tranh về sản phẩm dịch vụ, hàng hóa với nhau trên thị trường.
Thể hiện được điểm mạnh, ưu thế của doanh nghiệp, tổ chức, địa phương hay quốc gia đó đối với việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách lâu dài và bền vững về sản phẩm dịch vụ cung cấp về cả công nghệ, kỹ thuật, quản lý, tổ chức trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ trên thị trường”. Theo OECD (1996): “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các Ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Theo từ điển Thuật ngữ Kinh tế học của tác giả Mai Hữu Khuê (2001): “năng lực cạnh tranh chính là khả năng của doanh nghiệp có thể dành được thị trường, thị phần từ đối thủ cạnh tranh, có thể là một phần hoặc toàn bộ thị phần”. 13 Như vậy có thể thấy với tình hình kinh tế-xã hội đa dạng và phức tạp thì việc giải thích khái niệm năng lực cạnh tranh rất đa dạng và chưa rõ ràng. Có thể rút ra kết luận tổng thể từ các khái niệm trên: năng lực cạnh tranh giúp tạo ra được những dịch vụ, sản phẩm ngày càng hoàn hảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng, của thị trường, tạo được lợi thế so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh là cách thức các nước tạo điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế. Nó đo lường những gì hình thành nên sự phát triển này, những thứ như chính sách, thể chế và các yếu tố quyết định năng suất. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Nguyễn Thị Quy (2002): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng của doanh nghiệp có thể duy trì, phát triển và tạo ra lợi thế có thể mở rộng và duy trì được thị phần nhằm đạt được mới lợi nhuận cao hơn mức bình quân của ngành và liên tục tăng trưởng, đảm bảo hoạt động lành mạnh và an toàn, có khả năng chống chọi được với những bất lợi từ thị trường kinh doanh”. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được thể hiện qua số liệu về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua thị phần, lợi nhuận, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh về dịch vụ, sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh trên thị trường. Theo Vũ Trọng Lâm (2006): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố tốc độ tăng trưởng, sự phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp để xác lập vị thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị trường trong một khoảng thời gian nhất định. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở các nhóm yếu tố chủ yếu được tóm tắt qua Hình 1. 14 Uy tín thương hiệu sản phẩm Chất lượng, khả Năng lực Nhu cầu của năng cung ứng cạnh tranh của khách hàng đối doanh nghiệp với sản phẩm yếu tố đầu vào Công nghệ và dịch vụ trợ giúp (Nguồn: Vũ Trọng Lâm, 2006) Hình 1.1: Các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh là đánh giá thực tế năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, của doanh nghiệp và của quốc gia thông qua các tiêu chí để có những nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thay đổi mối tương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp chính là khả năng họ tạo ra được lợi thế cho mình, tạo ra năng suất và chất lượng sản phẩm dịch vụ cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Từ đó, doanh nghiệp chiếm phần lớn thị trường, nâng cao thu nhập cho người lao động và phát triển theo hướng bền vững. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao.
Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 1. Năng lực tài chính Yếu tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất cũng như là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp chính là nguồn lực tài chính. 15 Đối với những doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp có đủ nguồn lực để trang bị thiết bị máy móc hiện đại phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần tính toán nguồn lực tài chính của doanh nghiệp để quyết định mua sắm, trang bị trang thiết bị.