CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY KINH DOANH 1. Các khái niệm cơ bản và lý thuyết có liên quan 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cạnh tranh Có rất nhiều các cách hiểu khác nhau về cạnh tranh, nhưng có thể hiểu chung về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm giành lấy những vị thế để tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Khái niệm năng lực Có rất nhiều quan điểm về năng lực, tuy nhiên ta có thể hiểu như sau: Năng lực chính là khả năng liên kết các nguồn lực để cùng phục vụ cho một mục đích chung. Năng lực biểu thị sự liên kết giữa những nguồn lực hữu hình và vô hình riêng có của mỗi tổ chức. Năng lực thể hiện khả năng sử dụng các nguồn lực, đã được liên kết một cách có mục đích, nhằm đạt được kết quả mong muốn. Khái niệm và các cấp độ năng lực cạnh tranh a) Khái niệm năng lực cạnh tranh Theo J.
Henricsson (1985) cho rằng doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ có chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được mục đích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và doanh nghiệp. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) (2010) thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. 12 Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
NLCT không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho ngành và từng doanh nghiệp. b) Các cấp độ năng lực cạnh tranh - Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu định nghĩa: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian. Ở cấp độ quốc gia, khái niệm năng lực cạnh tranh có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên vè vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỉ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỉ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên.
Năng lực cạnh tranh không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực. - Năng lực cạnh tranh ngành: Cạnh tranh cấp ngành được chia thành 2 loại, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành: Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường.
Những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí phá sản. Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận. Sự điều chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của 13 lợi nhuận này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên một sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn như nhau thì cũng chỉ thu được như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành.
- Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hóa các đầu vào; các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp; yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ; vị trí của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Thị phần: thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữa trong tổng dung lượng thị trường. Chỉ tiêu này càng lớn, nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng.
Năng suất lao động: được xác định theo chỉ tiêu hiện vật hoặc giá trị. Thông qua năng suất lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lí, trình độ lao động và trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận: Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiều bạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng rất lớn. Trong kinh tế thị trường, yếu tố nổi bật nhất để đánh giá uy tín của doanh nghiệp đó là thương hiệu. - Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm/dịch vụ: Là khả năng đáp ứng tốt nhất các nhu cầu, mong muốn của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì, sự tiện lợi. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan 14 hệ hữu cơ với nhau.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dị ch vụ có được là do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra và được định đoạt bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ quyết đị nh mà còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố khácnhư khả năng nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, uy tín doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Một số lý thuyết liên quan 1. Lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV) Quan điểm xây dựng năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực RBV (Resouree- Based View), do Grant (1991) đề xướng, cho rằng để đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh, nguồn lực doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, công ty sẽ thành công nếu nó trang bị các nguồn lực phù hợp nhất và tốt nhất đối với việc kinh doanh và chiến lược của doanh nghiệp.
RBV không chỉ tập trung phân tích các nguồn lực bên trong mà cón có liên kết nang lực bên trong với môi trường bên ngoài. Theo RBV, lợi thế cạnh tranh sẽ bị thu hút về doanh nghiệp nào sở hữu những nguồn lực và năng lực tốt nhất. Doanh nghiệp nào khai thác tốt nhất các nguồn lực và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp mình sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh tốt nhất, bền vững nhất. Như vậy, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp xuất phát từ nguồn lực mà doanh nghiệp đang sở hữu bao gồm cả gồm cả nguồn lực vô hình và nguồn lực hữu hình.
Nếu doanh nghiệp nào khai thác có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp mình sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh với các đối thủ trong ngành. Có những doanh nghiệp chỉ có nguồn lực thông thường nhưng lại có khả năng đặc biệt trong việc sử dụng các nguồn lực này theo một cách thức độc đáo mà các doanh nghiệp khác không thể thực hiện được sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại một doanh nghiệp có thể có những nguồn lực độc đáo nhưng nếu chỉ có khả năng thông thường trong việc sử dụng các nguồn lực này thì năng lực cạnh tranh cũng mờ nhạt và kém bền vững. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Theo Nguyễn Hoàng Long và Nguyễn Hoàng Việt (2015) thì lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh đặc biệt của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đạt được chất lượng 15 vượt trội, năng suất vượt trội, sự đổi mới vượt trội và đáp ứng khách hàng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh.
Có hai dạng lợi thế cạnh tranh cơ bản là: Lợi thế cạnh tranh dựa vào chi phí thấp và lợi thế cạnh tranh dựa vào khác biệt hóa. + Chi phí thấp: Lợi thế về chi phí là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm/dịch vụ tương tự với mức giá thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh + Khác biệt hóa: Lợi thế về khác biệt hóa là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm/dịch vụ khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.