chương 1 này đã trình bày và giới thiệu một cách chi tiết nhất về lịch sử hình thành cũng như những đặc điểm quan trọng mà công ty cổ phần công nghệ giáo dục MAAS đã và đang sở hữu. Từ đó có một cái nhìn toàn diện và cụ thể hơn về thông tin cũng như các giai đoạn hình thành và phát triển theo từng năm. Nắm bắt được các lĩnh vực kinh doanh chính thống và những giá trị cốt lõi mà công ty đề cao trong hoạt động của mình. Trang 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2.1 Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2.1 Cạnh tranh Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển với quy mô và mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn thì việc cạnh tranh giữa các chủ thể doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp cùng ngành cùng sản phẩm, dịch vụ lại càng trở nên gay gắt hơn nữa.
Từ đó mà khái niệm cạnh tranh cũng được hình thành từ nhiều khía cạnh tiếp xúc thực tế khác nhau. Trong đó, có thể dẫn chứng một số khái niệm cụ thể như: Theo Porter (1985): “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” (p.35) Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995): “Cạnh tranh (trong hoạt động kinh doanh) được hiểu đó là hoạt động tranh đua giữa người sản xuất hàng hoá với nhau, cũng có thể là giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh về cùng một loại sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường, nhằm dành về cho bản thân mình các điều kiện sản xuất tốt nhất, đạt được mức tiêu thụ thị trường có lợi nhất” (p.359) Thông qua các lý thuyết đã được nêu ở trên thì cạnh tranh được hiểu như sau: Cạnh tranh là hình thức tranh giành trực tiếp về khách hàng và nâng cao dịch vụ về chất lượng của doanh nghiệp, thông qua việc phát triển hình ảnh thương hiệu ngày càng trở nên phổ biến trong mắt khách hàng hơn.
Luôn tìm kiếm những chiến lược mới đưa tên tuổi của doanh nghiệp ngày càng đi lên và có được lòng tin của người sử dụng dịch vụ từ đó tạo ra nguồn lợi nhuận thu về cho doanh nghiệp đó.2 Năng lực cạnh tranh 2.1 Lợi thế cạnh tranh Trang 13 Dù khái niệm về cạnh tranh đã được hình thành từ rất lâu đời nhưng mãi đến sau này thì bản chất của lợi thế cạnh tranh mới được đem ra để nghiên cứu phân tích và đưa ra những khái niệm mới mẻ. Từ những lợi thế cạnh tranh ấy doanh nghiệp sẽ nắm được đâu là thế mạnh giúp ích trong việc gia tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh khác và nâng cao chi phí đầu tư vào đó nhằm mục đích thu về lợi nhuận nhiều hơn nữa. Lợi thế cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho doanh nghiệp trở nên nổi bật hơn các đối thủ cạnh tranh khác. Theo Porter (1985): “Lợi thế cạnh tranh là sở hữu những giá trị đặc thù riêng mà các doanh nghiệp khác không có được nó, từ đó tạo ra được lợi thế hơn hẳn so với đối thủ.
Hơn nữa, lợi thế cạnh tranh còn phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn chi phí vốn mà doanh nghiệp đã bỏ ra và lợi thế cạnh tranh có thể xuất phát từ nhiều nguồn và hoạt động khác nhau trong thiết kế, sản xuất, chi phí dịch vụ. Mỗi hoạt động này đều góp phần đóng góp nâng cao lợi thế cạnh tranh, tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp” (p.1 Mô hình kim cương của Michael E. Porter Trang 14 (Nguồn: Michael E. Porter, 1985) Theo Porter (1985) thì có 4 yếu tố tác động và quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia đó là: - Điều kiện đầu vào sẵn có: bao gồm các yếu tố nhỏ được cụ thể hóa như con người, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên có sẵn, công nghệ và thông tin.
Đây được xem là các yếu tố tác động mạnh mẽ nhất và liên quan đến năng suất làm việc của chính công ty đó. Khi đi kèm với các điều kiện thì yếu tố này sẽ cấu thành nên năng lực cạnh tranh của công ty. - Chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh của chính doanh nghiệp: tác động trực tiếp đến năng suất lao động để tạo ra giá trị cạnh tranh. Chính vì lý do đó mà doanh nghiệp cần có chiến lược hợp lý và hiệu quả để có thể đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
- Các điều kiện về nhu cầu: Mức độ tăng trưởng của nền kinh tế thị trường trong kinh doanh luôn là vấn đề cần thiết và nó mang tầm ảnh hưởng mật thiết đến các doanh nghiệp bởi sự thay đổi chóng mặt liên tục đến từ người tiêu dùng. Do đó các doanh nghiệp cần phải thích ứng và nắm bắt để đáp ứng tốt những nhu cầu đó để tạo nên lợi thế cạnh tranh cho chính mình. - Các ngành nghề hỗ trợ liên quan: Muốn phát triển mạnh và lâu dài thì rất cần đến sự hỗ trợ của những ngành liên quan, các tổ chức bên ngoài, sự hỗ trợ từ nhà nước để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh của ngành nghề mà doanh nghiệp đang theo đuổi.2 Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh đã được đề cập qua một số quan niệm như sau: Theo Porter (1995): “Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra, duy trì và sử dụng tốt các lợi thế cạnh tranh của công ty để có thể tạo ra năng suất và chất lượng vượt xa so với đối thủ cạnh tranh hiện hữu của công ty. Từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng hơn hẳn.
Mục đích của việc này có thể giúp cho doanh nghiệp mở rộng thị phần của công ty, phát triển bền vững” (p.9) Trang 15 Như vậy, năng lực cạnh tranh được hiểu một cách khái quát như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vị thế mà doanh nghiệp đó tạo ra trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh. Là khả năng doanh nghiệp có thể tiếp tục duy trì sản phẩm, dịch vụ của mình, chiếm được thị phần riêng và tăng trưởng về mặt doanh thu, lợi nhuận so với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Vốn của Nhân lực doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Công nghệ Quản trị doanh nghiệp (Nguồn: Đặng Đức Thành, 2010, trang 49) Hình 2.2 Các nhân tố quyết định NLCT của doanh nghiệp Theo Đặng Đức Thành (2010), các nhân tố quyết định NLCT của doanh nghiệp bao gồm 4 yếu tố cơ bản như sau: - Vốn: Được xem là yếu tố quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp đó, trên thực tế vốn có thể xuất phát tự chủ hoặc cũng có thể từ các nhà đầu tư. Để tiến hành hoạt động sản xuất dịch vụ thì doanh nghiệp cần phải có vốn dùng làm chi phí mua các gói dịch vụ thuê người viết, trả tiền lương cho nhân viên, mua sắm các máy móc thiết bị cần thiết phục vụ cho quá trình làm việc.
- Công nghệ: Việc áp dụng đúng công nghệ phù hợp với cơ cấu làm việc sẽ giúp cho doanh nghiệp tối ưu hóa mọi hoạt động từ đó cắt giảm đi những thừa thải không cần thiết và tăng hiệu quả làm việc của nhân viên hơn nữa. Đây cũng là một yếu tố tác Trang 16 động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh nhờ vào việc cho phép nâng cao chất lượng dịch vụ hiện có và tạo ra nhiều dịch vụ mới đa dạng, tăng năng suất lao động. - Nhân lực: Con người đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và được xem là nguồn lực quan trọng bởi đây là nguồn chính quyết định đến lợi nhuận và sự phát triển của doanh nghiệp đó. - Quản trị doanh nghiệp: là tập hợp những hệ thống các quy tắc, cơ chế và quy định có khuôn khổ để từ đó giúp doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt tình hình doanh nghiệp mình và đưa ra cách thức điều hành hợp lý mang lại hiệu quả cao tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác.
Quản trị doanh nghiệp cũng lập ra những nguyên tắc cụ thể để nhanh chóng đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp bao gồm tất cả các lĩnh vực, việc đưa ra chính sách điều hành cùng các tập hợp cơ chế hợp lý giúp cho doanh nghiệp có hướng đi đúng đắn để từ đó tập trung phát triển nâng cao sức ảnh hưởng, năng lực cạnh tranh hơn nữa trên thị trường ngày nay. Một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh 2.1 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter Mô hình “5 áp lực cạnh tranh” được Michael Porter đưa ra. Dựa trên mô hình này để giúp các doanh nghiệp xác định được cũng như đo đếm được những áp lực mà doanh nghiệp phải tìm cách giải quyết nó để vượt qua. Mô hình 5 áp lực cạnh tranh được trình bày tổng quát như hình mô tả (xem hình 2.3) dưới đây: Hình 2.3 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael E.
Porter Trang 17 (Nguồn: Porter,2012, trang 35) - Áp lực từ chính các đối thủ cạnh tranh ở thời điểm hiện tại: Để có được khách hàng trung thành tin tưởng sử dụng sản phẩm dịch vụ và chiếm được thị phần theo mong muốn của doanh nghiệp đã đề ra thì cần có chiến lược cùng giải pháp đúng đắn để khẳng định được vị thế của mình. - Áp lực từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Việc những đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện đem lại những tính năng cùng chất lượng sản phẩm, dịch vụ nổi trội sẽ làm giảm đi lượng khách hàng cùng doanh thu từ đó chi phí tăng lên và lợi nhuận sẽ giảm đi một cách đáng kể. - Áp lực từ nhà cung ứng: Để có được đầu vào doanh nghiệp phải hợp tác với các nhà cung ứng. Nhà cung ứng được xem như một nguồn sống quan trọng cốt lõi cho doanh nghiệp khi nơi đây cung cấp các dịch vụ để doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu mong muốn của khách hàng.