CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH IN 1. Đặc điểm và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành in 1. Đặc điểm của doanh nghiệp ngành in Ngành in ấn là ngành tiếp nhận ủy thác của khách hàng, đưa hình ảnh gốc nhanh chóng sao chép ra nhiều bản sao. Ngành in ấn là một hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp đưa hình hoặc văn tự gốc làm thành ấn bản, dùng ấn bản đã nhúng qua mực, thông qua lực ép làm cho mực in vào những tấm giấy in hoặc những vật liệu khác, đồng thời sao chép nhanh chóng với số lượng lớn, là kỹ thuật thủ công quan trọng làm tăng thêm giá trị hoặc chức năng của sản phẩm.
Đặc điểm của ngành in ấn Việt Nam như sau: - Thị trường in ấn lượng ít, kiểu mẫu đa dạng; - Quá trình in ấn theo trào lưu số hóa, internet hóa, phát triển quy trình sản xuất từ xa; - Tiếp nhận đơn đặt hàng của các ngành sản xuất gia công và ngành thông tin dịch vụ; - Kỹ thuật ngành in và ứng dụng sản phẩm được phổ biến rộng rãi cho các ngành khác; - Tính chất chủ đạo của kỹ thuật và nguyên liệu yếu kém; - Chuyển dần từ định hướng sản xuất sang định hướng dịch vụ; - Bị hạn chế bởi các ngành cần thiết trong nước, chịu ảnh hưởng rất lớn của biến động kinh tế; - Chuyên ngành được phân chia rõ ràng, ngoại trừ một số ít xưởng tự sản xuất, còn lại là đem ra gia công; - Nên kết hợp phát triển mạnh mẽ, dịch vụ in ấn được cung cấp kịp thời, nhanh chóng và kinh tế. 8 ▲Sơ đồ 1: Quy trình ngành in ấn 1. Khái niệm cạnh tranh và công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp ngành in 1.Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. * Cạnh tranh: là khái niệm song hành với khái niệm kinh tế thị trường.
Cạnh tranh được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển và quy luật hoạt động của kinh tế thị trường. Cạnh tranh hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ganh đua hơn thua. Vậy trong sản xuất kinh doanh, cần hiểu cạnh tranh như thế nào? Theo Marx “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và mua bán hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một yếu tố trong cơ chế vận động thị trường.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả trong cạnh tranh sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa. Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường 9 vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội. Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển.
Ở cấp độ doanh nghiệp, theo Từ điển Kinh doanh (xuất bản năm 1992, tại Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm dành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình. Hai nhà kinh tế học người Mỹ P.D Nordhaus trong nghiên cứu về kinh tế học cho rằng: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để dành khách hàng hoặc thị trường. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Theo các tác giả trong cuốn “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh” thì cho rằng: cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc dành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần.
Đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngành in nói riêng, cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận mặt tiêu cực của cạnh tranh. Để khắc phục được những tiêu cực đó thì vai trò của Nhà nước hết sức quan trọng và cần thiết. Trong lĩnh vực in ấn, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp để đạt được mục tiêu kinh doanh.
Các doanh nghiệp đều cung ứng các sản phẩm là dịch vụ in ấn và việc cạnh tranh đó diễn ra trong cùng một môi trường kinh doanh: chịu tác động của cùng một hệ thống chính sách, cùng những tập quán tiêu dùng của khách hàng. Do đó, để “ganh đua”, mỗi doanh nghiệp phải tạo ra các ưu thế trong việc cung cấp các sản phẩm. Các ưu thế có thể là chất lượng 10 dịch vụ tốt hơn, giá cả thấp hơn, hệ thống phân phối thuận lợi hơn,… so với các doanh nghiệp khác. Như vậy, cạnh tranh trong hoạt động của doanh nghiệp in là việc các doanh nghiệp tạo ra và vận dụng các lợi thế so sánh trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ tại cùng một môi trường kinh doanh nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể như chất lượng, giá cả, lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần và nâng cao vị thế của mình trên thị trường hơn so với các doanh nghiệp khác.
* Năng lực cạnh tranh: Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thong tin đại chúng, sách báo, trong giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế các nhà kinh doanh…nhưng cho đến nay vẫn chưa có một sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khái niệm, các thức đo lường, phân tích năng lực cạnh tranh ở các cấp độ quốc gia lẫn ngành và doanh nghiệp. Bởi vì với mỗi một các tiếp cận khác nhauthì ý nghĩa của năng lực cạnh tranh lại khác nhau. Đối với một số người cho rằng năng lực cạnh tranh được thể hiện qua các chỉ số và tỷ trọng tương đối trong mối quan hệ hàng hóa, trong khi một số khác lại cho năng lực cạnh tranh lại bao gồm cả khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ đủ đáp ứng đòi hỏi của cạnh tranh quốc tế và đảm bảo mức sống cao cho các công dân trong nước. Tô chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa: “ Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất tạora thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, ngành, địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Theo định nghĩa của diễn đàn kinh tế thế giới ( WEF-1997): “ Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.” Xét trên góc độ doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất, chất lượng cao, giá thành hạ so với đối thủ cạnh tranh nhằm vượt qua các đối thủ để duy trì 11 và phát triển doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu thị trường và đem lại sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp.
Khả năng này đòi hỏi phải đạt được bằng nhiều mục tiêu. Doanh nghiệp phải cung cấp sản phẩm co chất lượng thích hợp, đúng lúc và với giá cả hợp lý, ngoài ra có thể phải cung cấp các sản phẩm đa dạng để đáp ứng các yêu cầu riêng biệt và phản ứng nhanh chóng với sự thay đổi của thị hiếu. Một số yếu tố khác được kể đến đó là khả năng đổi mới của doanh nghiệp, hệ thống marketing hiệu quả và xay dựng thương hiệu. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.
Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách không ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp ngành in Với những đặc thù trong lĩnh vực kinh doanh, đồng thời tùy vào chiến lược cạnh tranh trong từng giai đoạn, tùy vào năng lực cạnh tranh hiện tại của mình mà mỗi doanh nghiệp ngành in tập trung áp dụng một số hoặc tất cả các công cụ cạnh tranh sau: * Giá cả Giá cả sản phẩm được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua chính sách giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với thị trường có sự kết hợp với một số điều kiện khác. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả mà doanh nghiệp có thể kiểm soát là chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng, chi phí lưu thông. Để bán được hàng và nâng cao ưu thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp phải đưa ra giá cả sản phẩm dịch vụ thấp hơn các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, doanh 12 nghiệp phải tìm mọi cách để hạ giá thành dịch vụ như thuê nhân công với giá thấp, đặt nhà máy tại nơi có nguồn nguyên liệu vật liệu để tránh mọi chi phí vận chuyển… * Mẫu mã và chất lượng sản phẩm Mẫu mã và chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế sản phẩm cho đến khâu hoàn thành sản xuất sản phẩm và đem ra tiêu thụ sản phẩm.