Khóa luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bibica trên thị trường nội địa

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bibica trên thị trường nội địa, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải tiến

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

61
6
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực cạnh tranh của Bibica

Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bibica trên thị trường nội địa là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Công ty cần xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện vị thế của mình. Việc này không chỉ giúp Bibica tồn tại mà còn phát triển bền vững trong ngành bánh kẹo.

1.1. Tính cấp thiết của việc nâng cao năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt, trong ngành bánh kẹo, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, yêu cầu các công ty phải cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ.

1.2. Tổng quan về thị trường nội địa ngành bánh kẹo

Thị trường nội địa ngành bánh kẹo đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về nhu cầu tiêu dùng. Tuy nhiên, Bibica vẫn chỉ chiếm khoảng 5% thị phần, cho thấy cần có những chiến lược hiệu quả hơn để tăng cường sự hiện diện trên thị trường.

II. Những thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Bibica

Công ty Cổ phần Bibica đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Các yếu tố như sự gia tăng của đối thủ cạnh tranh, thay đổi trong xu hướng tiêu dùng và yêu cầu về chất lượng sản phẩm đang đặt ra áp lực lớn cho công ty. Việc nhận diện và phân tích các thách thức này là rất quan trọng.

2.1. Đối thủ cạnh tranh và áp lực từ thị trường

Sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ trong ngành bánh kẹo đã tạo ra áp lực lớn cho Bibica. Các công ty này không chỉ có nguồn vốn dồi dào mà còn sở hữu công nghệ sản xuất tiên tiến.

2.2. Xu hướng tiêu dùng và yêu cầu chất lượng

Người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến chất lượng và an toàn thực phẩm. Điều này đòi hỏi Bibica phải liên tục cải tiến sản phẩm và quy trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Bibica

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Bibica cần áp dụng một số phương pháp chiến lược. Việc cải thiện quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thương hiệu là những yếu tố quan trọng. Các giải pháp này sẽ giúp công ty tăng cường vị thế trên thị trường.

3.1. Cải tiến quy trình sản xuất và công nghệ

Đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại sẽ giúp Bibica nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm. Việc tự động hóa quy trình sản xuất cũng là một giải pháp cần thiết.

3.2. Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ

Cải thiện chất lượng sản phẩm không chỉ giúp tăng cường sự hài lòng của khách hàng mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho Bibica.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại những kết quả tích cực cho Bibica. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đã giúp công ty tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị phần.

4.1. Kết quả từ việc cải tiến quy trình sản xuất

Cải tiến quy trình sản xuất đã giúp Bibica giảm chi phí và tăng năng suất. Điều này không chỉ giúp công ty tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm.

4.2. Tăng trưởng doanh thu và thị phần

Sau khi áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, Bibica đã ghi nhận sự tăng trưởng doanh thu đáng kể, đồng thời mở rộng thị phần trong ngành bánh kẹo.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho Bibica

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một quá trình liên tục và cần sự chú ý từ ban lãnh đạo công ty. Bibica cần tiếp tục đầu tư vào công nghệ, cải thiện chất lượng sản phẩm và phát triển thương hiệu để duy trì và mở rộng vị thế trên thị trường nội địa.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Bibica cần xây dựng một chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào việc cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đồng thời phát triển thương hiệu mạnh mẽ.

5.2. Tăng cường nghiên cứu và phát triển

Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sẽ giúp Bibica không ngừng đổi mới và cải tiến sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

17/07/2025
Khóa luận nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bibica trên thị trường nội địa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh được phát biểu là sự tranh đua nhau để dành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau. Thuật ngữ “ Cạnh tranh” được sử dụng rất nhiều và phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, chính trị, quân sự, thể thao… và thường xuyên được nhắc đến trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế….Từ nhiều phương diện khác nhau, dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh, cụ thể như sau: Cạnh tranh theo cấp độ doanh nghiệp còn được hiểu là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực. Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất.

Theo Michael Portor thì: Cạnh tranh là hoạt động tranh dành thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà DN đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến kết quả có thể giảm đi. Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hóa giá trị hàng hóa thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, Mars cũng đề cập cạnh tranh gắn bó với quan hệ cung cầu của hàng hóa.

Mars đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ và cạnh tranh giữa các nhóm ngành với nhau, cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa người mua với nhau khi cầu lớn hơn cung. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nói chung cạnh tranh có thể hiểu là “Sự đấu tranh của hai hay nhiều bên cùng tham gia vào một hoạt động với cùng một mục đích. Mục đích ấy có thể là quyền hành, là vị thế có lợi cho mình trên các phương diện. Trong kinh tế thị trường đó là sự dành giật về thị phần, quyền kiểm soát mua hoặc bán các loại sản phẩm”.

Là một phạm trù phức tạp cạnh tranh có liên quan đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một hiện tượng tất yếu xảy ra đặc biệt là kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế mà ở đó các DN ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp bất chấp là nghệ thuật hay thủ đoạn để đạt mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, dành lấy thị phần khách hàng cũng như điều kiện sản xuất để đạt được mục tiêu cốt lõi nhất là lợi nhuận.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong KD và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng LN, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các SP cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện nay và làm thúc đẩy, xúc tiến những phạm vi thị trường mới. NLCT của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN so với ĐTCT trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của KH để thu LN ngày càng cao. Giống với “Cạnh tranh”, : Năng lực cạnh tranh” cũng có nhiều khái niệm, cụ thể là: Theo tác giả Vũ Trọng Lâm: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ, tức doanh nghiệp đó chiếm lĩnh thị phần một nhóm ngành hàng càng lớn thì doanh nghiệp đó sẽ càng có sức mạnh để ngăn cản các doanh nghiệp khác cùng nhóm mặt hàng tham gia vào thị trường. Theo Michael Porter: Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế, doanh nghiệp càng đa dạng mẫu mã sản phẩm sẽ có lợi thế cạnh tranh về mẫu mã sản phẩm so với đối thủ.

Như vậy có thể thấy rằng, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải xuất phát từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp đó. Một số doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành giật những điều kiện thuận tiện và có lợi cho doanh nghiệp của mình. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong môi trường cạnh tranh”.3 Lợi thế cạnh tranh Cách tiếp cận thứ nhất: Tiếp cận dựa trên chuỗi giá trị Dựa trên quan điểm của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thì chuỗi giá trị của DN được mô phỏng như sơ đồ 1.1: Mô hình chuỗi giá trị của Micheal Porter Nguồn: Theo Porter (1998) 8 Theo Michael Porter, DN có thể xem như một chuỗi các hoạt động chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành đầu ra. Khách hàng sẽ đánh giá, giá trị các sản phẩm theo quan điểm của họ.

Nếu họ thoả mãn thì họ sẵn sàng trả với giá cao và nếu ngược lại thì họ sẽ trả giá thấp hơn. Các hoạt động chuyển hoá này sẽ làm tăng giá trị của sản phẩm của doanh nghiệp. Ông gọi đây là các hoạt động tạo ra giá trị. Dựa trên quan điểm của Ông thì chuỗi giá trị của doanh nghiệp gồm hai loại hoạt động đó là các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ.

Các hoạt động chính là hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm. Các hoạt động hỗ trợ là những hoạt động tạo cơ sở và điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động chính. Các hoạt động này bao gồm các yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của DN, phát triển công nghệ, quản trị nhân lực, mua sắm thiết bị phương tiện phục vụ sản xuất. DN muốn có lợi thế cạnh tranh thì phải hoạt động tạo ra giá trị với chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh hoặc tạo sự khác biệt trong sản phẩm để tăng giá trị cho khách hàng.

Chênh lệch giữa giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng với chi phí để tạo ra giá trị đó gọi là biên lợi nhuận. Biên lợi nhuận càng lớn thì doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao vì nếu DN đặt giá sản phẩm ngang với giá của đối thủ cạnh tranh thì họ vẫn thu được lợi nhuận cao hơn. Ngay cả khi DN đặt giá thấp hơn thì vẫn thu được tỷ suất lợi nhuận ngang bằng và khi đó DN vẫn thu hút được khách hàng và gia tăng thị phần. Nếu DN chỉ tập trung cải thiện hiệu quả hoạt động nội bộ, tức là thực hiện các hoạt động tạo chi phí thấp hơn thì chưa đủ tạo ra lợi thế cạnh tranh trong dài hạn.

Các đối thủ có thể bắt chước cách thức hoạt động hiệu quả của DN và khi đó DN sẽ mất đi lợi thế về chi phí thấp. LTCT không xuất phát từ một vài hoạt động riêng lẻ mà phụ thuộc và là kết quả của sự tương tác, phối hợp của các hoạt động trong chuỗi giá trị.” Cách tiếp cận thứ hai: Cách tiếp cận dựa trên các nguồn lực của doanh nghiệp Đây là cách tiếp cận xem xét nguồn gốc LTCT của DN dựa trên các nguồn lực và khả năng cạnh tranh của DN. Với cách tiếp cận này thì LTCT của DN được đánh giá qua những nguồn lực mang tính độc đáo, khó bị sao chép và có giá trị của DN và DN phải khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó. DN có thể chỉ có nguồn lực thông thường nhưng lại có khả năng đặc biệt mà các đối thủ khác không có để kết hợp thì những nguồn lực này cũng được đánh giá là nguồn lợi thế cạnh tranh của DN.

Trong khi đó có những nguồn lực độc đáo nhưng chỉ có khả năng thông thường thì LTCT của nguồn lực đó cũng không được đánh giá cao và kém bền vững. LTCT mạnh nhất nếu DN vừa có các nguồn lực độc đáo, khó sao chép, có giá trị, vừa có khả năng đặc biệt để khai thác nhằm tạo ra các dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của KH. LTCT của DN có thể bị mai một và mất đi nhanh chóng nhưng có một số LTCT thì lại tồn tại tương đối lâu dài. DN có nguồn lực hữu hình dễ sao chép thì lợi thế đó sẽ chỉ mang tính nhất thời vì các DN khác có thể sao chép được.

Nếu DN xây dựng LTCT dựa vào những nguồn lực vô hình và dựa vào yếu tố độc đáo, lợi thế có xu hướng lâu bền hơn vì đối thủ khó sao chép.4 Năng lực cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh a, Năng lực cạnh tranh Trong cạnh tranh sẽ có người có khả năng cạnh tranh mạnh và người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh và sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu, khả năng cạnh tranh này gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Theo Michael Porter, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp” Từ khái niệm nêu trên, có thể hiểu “Năng lực cạnh tranh chính là khả năng sử dụng các nguồn lực kết hợp một cách có mục đích để giành lấy lợi ích về phía mình”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao năng lực cạnh tranh của Bibica trên thị trường nội địa" tập trung vào việc phân tích và đề xuất các chiến lược nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh của công ty Bibica trong bối cảnh thị trường ngày càng khốc liệt. Các điểm chính của tài liệu bao gồm việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh, xác định các cơ hội và thách thức, cũng như đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các chiến lược này, giúp họ hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của thị trường và cách mà Bibica có thể tận dụng các yếu tố bên ngoài để phát triển.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các chiến lược kinh doanh trong các lĩnh vực liên quan, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ chiến lược kinh doanh ngành bưu chính viễn thông tại thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiến lược trong ngành viễn thông. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp chi nhánh Thanh Hóa trong bối cảnh chuyển đổi số cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng công nghệ trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đóng tàu Hồng Hà sẽ mang đến những giải pháp cụ thể cho việc tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh trong ngành sản xuất. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về các chiến lược kinh doanh hiệu quả.