Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã (HTX) đóng vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa và hỗ trợ kinh tế hộ gia đình phát triển. Sau khi Luật Hợp tác xã năm 2003 có hiệu lực, các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) đã tiến hành chuyển đổi mô hình hoạt động nhằm thích ứng với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, hoạt động của phần lớn HTXNN vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về năng lực nội tại, các khâu dịch vụ chậm đổi mới và hiệu quả kinh tế đem lại cho thành viên chưa cao.
Một trong những nguyên nhân then chốt dẫn đến tình trạng trên là chất lượng nguồn nhân lực quản lý HTX còn nhiều bất cập. Tại tỉnh Hà Tây giai đoạn 2003–2006, phần lớn cán bộ quản lý HTX có trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ thấp, đa số chưa qua đào tạo chính quy, thiếu kiến thức quản lý kinh tế hiện đại. Tình trạng này tạo ra rào cản lớn đối với việc mở rộng hoạt động dịch vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Hà Thị Phương Hồng (lớp Kinh tế nông nghiệp K45, dưới sự hướng dẫn của GVHD. Võ Thị Hòa Loan) đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp: “Đào tạo nâng cao năng lực của cán bộ quản lý HTX trong quá trình xây dựng và phát triển HTX ở tỉnh Hà Tây hiện nay”.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề tập trung vào các nội dung chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình hợp tác xã kiểu mới, vai trò của HTX nông nghiệp và vị trí của đội ngũ cán bộ quản lý trong điều hành hoạt động HTX.
- Đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức, hoạt động kinh doanh dịch vụ và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý HTXNN trên địa bàn tỉnh Hà Tây giai đoạn 2003–2006.
- Phân tích chi tiết quá trình tổ chức triển khai, kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX năm 2006 do Chi cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây thực hiện.
- Đề xuất phương hướng, kế hoạch đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ HTXNN cho các năm tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu là đội ngũ cán bộ quản lý HTX nông nghiệp (bao gồm Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán, cán bộ chuyên môn và tổ/đội trưởng dịch vụ) cùng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực này. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 14 huyện, thị xã thuộc tỉnh Hà Tây, với dữ liệu thực tiễn tập trung trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2006.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý
Tác giả xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước:
- Khái niệm và nguyên tắc HTX: Sử dụng định nghĩa của Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA, 1995) và Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003 của Việt Nam, nhấn mạnh 5 nguyên tắc tổ chức HTX kiểu mới (tự nguyện gia nhập/ra khỏi HTX; quản lý dân chủ và bình đẳng; tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; phân phối thu nhập kết hợp giữa vốn góp, công sức và mức độ sử dụng dịch vụ; bảo đảm phát triển HTX).
- Phân loại hình thức HTX nông nghiệp: Xác định 3 hình thức chính gồm (1) HTX dịch vụ nông nghiệp (chuyên khâu như thủy nông, điện nông thôn, vật tư hoặc dịch vụ tổng hợp); (2) HTX sản xuất kết hợp dịch vụ; (3) HTX sản xuất nông nghiệp.
- Cơ sở lý luận về cán bộ quản lý HTX: Làm rõ vị trí, đặc trưng và vai trò của cán bộ quản lý HTX; phân tích 2 mô hình tổ chức bộ máy quản lý (mô hình tách rời quản lý và điều hành; mô hình kết hợp vừa quản lý vừa điều hành - phổ biến tại miền Bắc).
- Hệ thống văn bản chỉ đạo và cơ chế chính sách: Chỉ thị số 100-CT/TW (1981), Nghị quyết số 10-NQ/TW (1988), Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới và phát triển kinh tế tập thể, Nghị định số 64/CP về giao đất nông nghiệp, Nghị định số 88/2005/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ phát triển HTX, Quyết định số 146/CP về xóa nợ cho HTX, Quyết định số 321/QĐ-UBND ngày 27/2/2006 của UBND tỉnh Hà Tây, Công văn số 304/SNN-HTX ngày 22/3/2006 của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hà Tây, và Văn bản số 2440/BNN-HTX ngày 22/9/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Tổng hợp số liệu thống kê hành chính thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2003–2006 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây, cùng báo cáo tổng hợp từ Phòng Nông nghiệp và PTNT 14 huyện, thị xã.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thống kê mô tả, phân loại, so sánh cơ cấu theo tỷ lệ phần trăm đối với các chỉ tiêu về quy mô HTX, cơ cấu dịch vụ, tình hình tài chính - tài sản và thực trạng phân loại trình độ học vấn, chuyên môn của từng nhóm cán bộ.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến đánh giá học viên sau các lớp bồi dưỡng năm 2006 và tiến hành khảo sát thực tế tại 19 HTX nông nghiệp thuộc 9 huyện, thị xã có cán bộ tham gia học tập nhằm đánh giá mức độ chuyển biến trong quản lý điều hành sau đào tạo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hợp tác xã và cán bộ quản lý hợp tác xã
Chương này tập trung làm sáng tỏ bản chất của HTX kiểu mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và luận giải vai trò quyết định của đội ngũ cán bộ điều hành:
- Bản chất kinh tế của HTXNN: HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế mang tính liên kết tự nguyện của các hộ nông dân, đóng vai trò đơn vị kinh tế tự chủ hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển mà không phá vỡ tính độc lập của kinh tế hộ gia đình. HTXNN mang tính chất lưỡng tính: vừa tương trợ, giúp đỡ xã viên vừa tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vai trò của HTXNN trong phát triển nông thôn: Đóng vai trò cầu nối tiếp nhận chính sách hỗ trợ của Nhà nước; cung cấp các dịch vụ đầu vào và giải quyết đầu ra cho nông sản; điều tiết quy hoạch mùa vụ, cơ cấu giống trên đồng ruộng; hỗ trợ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; góp phần ổn định chính trị - xã hội tại địa bàn nông thôn.
- Vị trí và vai trò của cán bộ quản lý HTX: Cán bộ quản lý HTX là những người làm việc thường xuyên trong bộ máy HTX, hưởng lương hoặc phụ cấp từ nguồn thu của HTX. Họ giữ 4 vai trò cốt lõi: trực tiếp tham gia xây dựng mục tiêu và phương hướng hoạt động; lựa chọn phương án tối ưu để sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đại diện pháp lý và là cầu nối triển khai chủ trương chính sách của Nhà nước đến người dân; nhân tố then chốt quyết định sự thành bại trong việc đổi mới HTX.
- Cơ cấu tổ chức bộ máy: Phân tích sơ đồ mô hình HTX phổ biến ở miền Bắc bao gồm Chủ nhiệm HTX, Phó Chủ nhiệm, Ban Quản trị, Ban Kiểm soát, Kế toán trưởng và các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ (tài vụ, kế hoạch, tổ đội dịch vụ).
Chương 2: Thực trạng về HTX nông nghiệp tỉnh Hà Tây về vấn đề nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý HTX tại tỉnh Hà Tây
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về tổ chức, tình hình hoạt động và công tác bồi dưỡng cán bộ HTX trên địa bàn tỉnh:
1. Thực trạng phát triển và hoạt động của HTX nông nghiệp (2003–2006)
- Quy mô tổ chức: Đến cuối năm 2006, toàn tỉnh có 540 HTX, gồm 533 HTX nông nghiệp (532 HTX đã chuyển đổi theo Luật HTX năm 2003, 01 HTX chưa chuyển đổi), 06 HTX chăn nuôi và 01 HTX thủy sản (Đồng Tháp - Đan Phượng). Tổng số xã viên là 793.147 người (174.111 đại diện hộ, 519.035 cá nhân, 01 pháp nhân).
- Tổ chức dịch vụ nông nghiệp: Tỷ lệ HTX thực hiện các dịch vụ thiết yếu rất cao (dịch vụ tưới tiêu nước đạt 100%, bảo vệ thực vật 83%, điện nông thôn 83,4%, khuyến nông 70,4%, cung ứng giống 68,7%). Tuy nhiên, các dịch vụ gia tăng giá trị còn rất thấp: dịch vụ làm đất đạt 28,6%, cung ứng vật tư 40%, bảo quản nông sản 18,5% và tiêu thụ nông sản cho hộ xã viên chỉ đạt 1,5%. Cơ cấu số lượng dịch vụ: 39,5% số HTX đảm nhận từ 6 dịch vụ trở lên, 44,8% làm 4–5 dịch vụ, và 15,7% làm 2–3 dịch vụ.
- Cơ sở vật chất và tài chính: Có 372/533 HTX có trụ sở riêng (70%), còn 40 HTX phải mượn địa điểm tại đình làng, nhà văn hóa hoặc UBND xã. Tài sản cố định bình quân đạt 790 triệu đồng/HTX (tăng 230 triệu đồng so với năm 2001); kiên cố hóa được trên 500 km kênh mương bê tông. Vốn lưu động thấp (chỉ chiếm 20–30% tổng vốn quỹ). Vốn góp bình quân đạt 353 triệu đồng/HTX; nợ phải thu bình quân 249 triệu đồng/HTX (trong đó nợ khó đòi toàn tỉnh là 51,75 tỷ đồng, bình quân 97,4 triệu đồng/HTX); nợ phải trả bình quân 175,3 triệu đồng/HTX. Doanh thu bình quân năm 2005 đạt 599,92 triệu đồng/HTX; 85,5% số HTX hạch toán có lãi với mức bình quân 47,6 triệu đồng/HTX, tuy nhiên mức lãi thực tế phân phối chỉ dao động từ 25–30 triệu đồng/HTX do tồn đọng công nợ xã viên.
- Phân loại chất lượng HTX (2005): HTX loại khá, giỏi chiếm 48,2% (256 HTX); loại trung bình chiếm 41,6% (221 HTX); loại yếu kém chiếm 8,3% (44 HTX); còn 1,9% chưa phân loại.
2. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý HTX
Toàn tỉnh có 6.606 cán bộ HTX (chiếm 0,83% tổng số xã viên), phân bổ thành: Ban Quản trị (1.196 người), Ban Kiểm soát (804 người), Kế toán (899 người), Cán bộ chuyên môn (986 người), Tổ đội trưởng dịch vụ (2.721 người).
- Cơ cấu độ tuổi: Đội ngũ cán bộ có xu hướng già hóa: dưới 35 tuổi chiếm 21,73%; từ 35–45 tuổi chiếm 31,06%; trên 45 tuổi chiếm 41,18%.
- Trình độ chuyên môn: Tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng áp đảo ở hầu hết các vị trí quản lý: Ban Quản trị có 67,64% chưa qua đào tạo; Ban Kiểm soát có 85,07% chưa qua đào tạo; Kế toán có 53,39% chưa qua đào tạo; Cán bộ chuyên môn có 73,94% chưa qua đào tạo. Tỷ lệ có trình độ đại học, cao đẳng toàn ngành chỉ đạt xấp xỉ 6%.
- Chế độ đãi ngộ và biến động nhân sự: Thù lao chức danh Chủ nhiệm HTX bình quân 250.000 đồng/tháng (nơi cao nhất đạt 1.000.000 đồng/tháng tại HTX Dương Liễu, huyện Hoài Đức; chỉ 10% HTX trả trên 500.000 đồng/tháng). Toàn tỉnh mới có 92 HTX đóng BHXH cho 511 cán bộ; các địa phương như Hà Đông, Sơn Tây, Phú Xuyên, Quốc Oai chưa có HTX tham gia BHXH. Chế độ thấp dẫn đến tỷ lệ luân chuyển, biến động cán bộ hàng năm từ 20–30% (năm 2004 có 23% cán bộ chủ chốt chuyển sang làm công tác Đảng và chính quyền xã).
3. Quá trình triển khai và kết quả đào tạo cán bộ HTX năm 2006
Thực hiện Quyết định số 321/QĐ-UBND với nguồn kinh phí 250 triệu đồng do Sở Tài chính cấp, Chi cục HTX và Phát triển nông thôn đã phối hợp với Trường Quản lý cán bộ Nông nghiệp & PTNT I và các trường chuyên ngành triển khai:
- Đào tạo trong kế hoạch: Mở 8 lớp bồi dưỡng ngắn hạn (thời gian 11 ngày/lớp gồm 9 ngày lý thuyết, 1 ngày đi thực tế mô hình và 1 ngày làm bài tập thực hành) cho 387 học viên (194 học viên lớp Kế toán và 193 học viên lớp Kiểm soát) tại các cụm huyện: Quốc Oai, Ứng Hòa, Thanh Oai, Hà Đông, Ba Vì, Mỹ Đức. Kết quả: 310 học viên đạt loại khá - giỏi (80%), 69 học viên đạt loại trung bình (18%), 8 học viên yếu kém (2%); cấp chứng chỉ cho 379 học viên (98%) và Giám đốc Sở khen thưởng 16 cá nhân xuất sắc.
- Đào tạo ngoài kế hoạch: Mở 2 lớp bồi dưỡng ngắn hạn (80 học viên) tại Chi cục và huyện Thạch Thất do Trường Quản lý cán bộ Nông nghiệp & PTNT I tài trợ kinh phí, cấp chứng chỉ cho 100% học viên. Khởi động 2 lớp đào tạo nghề dài hạn (18 tháng) cho 80 học viên (40 học viên quản lý và 40 học viên kế toán) phối hợp với Trường Trung cấp & Dạy nghề Nông nghiệp & PTNT I.
- Hạn chế của công tác đào tạo năm 2006: Đối tượng bồi dưỡng mới tập trung vào Kế toán và Kiểm soát, chưa tổ chức được cho Ban Quản trị; trang thiết bị giảng dạy còn thô sơ; định mức kinh phí hỗ trợ học viên còn thấp; học viên còn bị chi phối bởi việc gia đình và công việc HTX (có 8 học viên không đủ điều kiện cấp chứng chỉ).
- Kế hoạch năm 2007: Xây dựng mục tiêu mở 4 lớp cho Ban Quản trị (200 học viên) và 3 lớp cho Ban Kiểm soát (150 học viên).
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp số liệu thực trạng cán bộ và kết quả đào tạo
Bảng 1: Cơ cấu trình độ chuyên môn của cán bộ HTX tỉnh Hà Tây (Năm 2006)
| Nhóm cán bộ |
Tổng số (người) |
Đại học, Cao đẳng (người / %) |
Trung cấp (người / %) |
Chưa qua đào tạo (người / %) |
Đã qua bồi dưỡng ngắn hạn (người / %) |
| Ban Quản trị |
1.196 |
146 (12,21%) |
241 (20,15%) |
809 (67,64%) |
200 (16,72%) |
| Ban Kiểm soát |
804 |
36 (4,48%) |
84 (10,45%) |
684 (85,07%) |
425 (52,86%) |
| Ban Kế toán |
899 |
69 (7,68%) |
350 (38,93%) |
480 (53,39%) |
506 (56,28%) |
| Cán bộ chuyên môn |
986 |
110 (11,16%) |
147 (14,91%) |
729 (73,94%) |
0 (0,00%) |
| Đội ngũ dịch vụ |
2.721 |
36 (1,32%) |
95 (3,49%) |
2.131 (78,32%) |
0 (0,00%) |
| Tổng cộng |
6.606 |
397 (6,01%) |
917 (13,88%) |
4.833 (73,16%) |
1.131 (17,12%) |
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2006 tổng hợp trong văn bản)
Bảng 2: Kết quả đánh giá xếp loại học viên các lớp bồi dưỡng kế hoạch năm 2006
| Lớp bồi dưỡng |
Địa điểm mở lớp |
Tổng số học viên |
Khá - Giỏi (học viên) |
Trung bình (học viên) |
Yếu kém (học viên) |
Cấp chứng chỉ (học viên) |
Khen thưởng (học viên) |
| Kế toán |
Huyện Quốc Oai |
50 |
40 |
04 |
06 |
44 |
02 |
| Kế toán |
Huyện Ứng Hòa |
50 |
40 |
10 |
00 |
50 |
02 |
| Kế toán |
Huyện Thanh Oai |
50 |
40 |
10 |
00 |
50 |
02 |
| Kế toán |
Thị xã Hà Đông |
44 |
35 |
09 |
00 |
44 |
02 |
| Kiểm soát |
Huyện Ba Vì |
42 |
33 |
09 |
00 |
42 |
02 |
| Kiểm soát |
Huyện Mỹ Đức |
50 |
40 |
09 |
01 |
49 |
02 |
| Kiểm soát |
Huyện Ứng Hòa |
51 |
41 |
09 |
01 |
50 |
02 |
| Kiểm soát |
Thị xã Hà Đông |
50 |
41 |
09 |
00 |
50 |
02 |
| Tổng số |
Toàn tỉnh |
387 |
310 (80,1%) |
69 (17,8%) |
08 (2,1%) |
379 (97,9%) |
16 |
(Nguồn: Báo cáo đánh giá kết quả học viên năm 2006)
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, tác giả đưa ra hệ thống giải pháp:
- Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và bảo hiểm: Cần xây dựng cơ chế thù lao thỏa đáng gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh của HTX; ban hành hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế bắt buộc cho cán bộ quản lý HTX chuyên trách nhằm hạn chế tình trạng biến động và chảy máu nhân lực (20–30%/năm).
- Tháo gỡ rào cản tài chính, đất đai: Đẩy nhanh tiến độ giải quyết tồn đọng nợ cũ theo Quyết định số 146/CP (xử lý dứt điểm 26 tỷ đồng nợ trước 1996); cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trụ sở và cửa hàng dịch vụ HTX; tạo điều kiện cho HTX tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng thương mại và vốn ưu đãi.
- Cải tiến nội dung và phương thức đào tạo: Mở rộng đối tượng bồi dưỡng đồng bộ cho cả Ban Quản trị, cán bộ chuyên môn và đội ngũ dịch vụ; đa dạng hóa hình thức đào tạo (kết hợp ngắn hạn 10–11 ngày và dài hạn 18 tháng); tăng cường thời lượng thực hành ghi chép sổ sách kế toán, kỹ năng lập phương án sản xuất kinh doanh và xử lý tình huống thanh tra, kiểm soát.
- Nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước: Tăng cường biên chế và ngân sách hoạt động cho Chi cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn tỉnh; bố trí cán bộ chuyên trách theo dõi kinh tế tập thể tại các Phòng Nông nghiệp và PTNT cấp huyện.
Đóng góp thực tiễn của đề tài
Chuyên đề cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết, phản ánh chân thực thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ HTX nông nghiệp tỉnh Hà Tây trong giai đoạn bản lề thực hiện Luật HTX năm 2003. Đồng thời, văn bản đúc kết kinh nghiệm tổ chức mô hình liên kết đào tạo 3 bên (Sở Nông nghiệp & PTNT/Chi cục HTX - Trường chuyên ngành của Bộ NN&PTNT - Phòng Nông nghiệp cấp huyện), làm cơ sở xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nhân lực HTX cho các năm tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Phạm vi dữ liệu thực tiễn và hoạt động đào tạo tập trung phản ánh bối cảnh địa giới hành chính tỉnh Hà Tây trước thời điểm sáp nhập vào TP. Hà Nội. Công tác bồi dưỡng năm 2006 trong đề tài mới chủ yếu tập trung khảo sát hai đối tượng là Ban Kiểm soát và Kế toán HTX; các số liệu khảo sát về tác động sau đào tạo mới dừng lại ở mức khảo sát ban đầu trên mẫu 19 HTX tại 9 huyện/thị xã.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Theo dõi, đánh giá hiệu quả đầu ra của các khóa đào tạo nghề dài hạn (18 tháng) về quản lý và kế toán HTX nông nghiệp.
- Nghiên cứu giải pháp đào tạo chuyên sâu về kỹ năng xúc tiến thương mại, chế biến và tiêu thụ nông sản nhằm khắc phục điểm yếu chỉ có 1,5% HTX làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm.
- Xây dựng cơ chế liên kết đào tạo gắn với tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng nông nghiệp về làm việc tại khu vực kinh tế tập thể.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tư liệu có giá trị đối với:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị hợp tác xã, Phát triển nông thôn: Cung cấp khung lý thuyết về HTX kiểu mới, mô hình tổ chức bộ máy HTX tại miền Bắc và phương pháp phân tích số liệu thực trạng nhân lực nông thôn.
- Cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế tập thể (Chi cục Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác xã): Tham khảo quy trình tổ chức, khung chương trình đào tạo nghiệp vụ kế toán - kiểm soát HTX (11 ngày) và phương thức phối hợp giữa các cấp quản lý với cơ sở đào tạo chuyên ngành.
- Ban Quản trị các HTX nông nghiệp: Nắm bắt các quy định của Luật HTX năm 2003, các biểu mẫu chỉ tiêu đánh giá hoạt động tài chính, dịch vụ và phương pháp chuẩn hóa hồ sơ sổ sách kế toán.
Câu hỏi thường gặp
1. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý HTX tỉnh Hà Tây năm 2006 có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu điều tra năm 2006, toàn tỉnh có 6.606 cán bộ HTX nhưng chất lượng chuyên môn rất thấp: tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 6,01% (397 người), trình độ trung cấp chiếm 13,88% (917 người), trong khi số cán bộ chưa qua đào tạo chiếm tới 73,16% (4.833 người). Ở cấp lãnh đạo, tỷ lệ chưa qua đào tạo của Ban Quản trị là 67,64% và Ban Kiểm soát là 85,07%.
2. Mức thù lao và chính sách bảo hiểm cho cán bộ HTX nông nghiệp tỉnh Hà Tây giai đoạn 2003–2006 như thế nào?
Mức thù lao của cán bộ rất thấp, lương Chủ nhiệm HTX bình quân chỉ đạt 250.000 đồng/tháng (nơi cao nhất là HTX Dương Liễu - Hoài Đức đạt 1.000.000 đồng/tháng; chỉ 10% HTX trả trên 500.000 đồng/tháng), các chức danh khác hưởng từ 30% đến 90% lương Chủ nhiệm. Toàn tỉnh chỉ có 92 HTX đóng BHXH cho 511 cán bộ, khiến tỷ lệ thôi việc hoặc chuyển công tác hàng năm lên tới 20–30% (năm 2004 có 23% cán bộ chủ chốt chuyển sang làm công tác Đảng và UBND xã).
3. Chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ HTX trong kế hoạch năm 2006 được tổ chức với quy mô và nội dung ra sao?
Chương trình được cấp ngân sách 250 triệu đồng, tổ chức thành công 8 lớp (4 lớp Kế toán và 4 lớp Kiểm soát) với thời lượng 11 ngày/lớp (9 ngày lý thuyết, 1 ngày đi thực tế cơ sở, 1 ngày làm bài tập). Tổng số có 387 học viên tham gia, kết quả có 310 học viên xếp loại khá - giỏi (80%), 69 học viên đạt loại trung bình (18%), 8 học viên yếu kém (2%); 379 học viên (98%) được cấp chứng chỉ và 16 học viên được Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT tặng giấy khen.
4. Cơ cấu tổ chức hoạt động dịch vụ của các HTXNN tỉnh Hà Tây năm 2006 có những hạn chế gì?
Hoạt động dịch vụ chủ yếu tập trung vào các khâu đầu vào truyền thống và hỗ trợ sản xuất (dịch vụ tưới tiêu nước đạt 100%, bảo vệ thực vật 83%, điện 83,4%, giống 68,7%). Ngược lại, các dịch vụ mở rộng và đầu ra có tỷ lệ rất thấp: làm đất đạt 28,6%, cung ứng vật tư 40%, bảo quản nông sản 18,5%, dịch vụ tín dụng nội bộ 1,69% và tiêu thụ nông sản cho hộ xã viên chỉ đạt 1,5%.
5. Những tồn tại về mặt tài chính và tài sản của các HTXNN tỉnh Hà Tây được ghi nhận trong nghiên cứu là gì?
Vốn lưu động của HTX rất thấp, chỉ chiếm 20–30% tổng vốn quỹ. Tình trạng công nợ tồn đọng nghiêm trọng: nợ phải thu bình quân 249 triệu đồng/HTX (trong đó nợ khó đòi toàn tỉnh là 51,75 tỷ đồng, bình quân 97,4 triệu đồng/HTX); nợ phải trả bình quân 175,3 triệu đồng/HTX. Dù 85,5% số HTX hạch toán có lãi nhưng mức lãi thực tế rất thấp (chỉ 25–30 triệu đồng/HTX) do xã viên nợ đọng sản phẩm, dẫn đến mất cân đối tài chính và khó tiếp cận vốn vay ngân hàng.
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Hà Thị Phương Hồng đã phân tích toàn diện thực trạng tổ chức, hoạt động và chất lượng nguồn nhân lực của 540 HTX nông nghiệp tại tỉnh Hà Tây giai đoạn 2003–2006. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng điểm nghẽn lớn nhất của kinh tế tập thể địa phương là trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ còn thấp (hơn 73% chưa qua đào tạo) cùng chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng. Việc tổ chức thành công các khóa bồi dưỡng ngắn hạn cho 387 cán bộ kế toán, kiểm soát năm 2006 và mở rộng đào tạo nghề dài hạn 18 tháng đã bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong công tác quản lý điều hành HTX, đồng thời đặt nền móng cho việc xây dựng kế hoạch chuẩn hóa nhân lực nông nghiệp trong các giai đoạn tiếp theo.