CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LỢI THẾ CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH CHO SIÊU THỊ Chương này nhằm tổng kết và đánh giá các lý thuyết về lợi thế cạnh tranh và các nghiên cứu có liên quan đến các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, đồng thời phân tích các đặc điểm kinh tế kỹ thuật của loại hình kinh doanh siêu thị để nhận dạng các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh của siêu thị. Chương này, còn phân tích qui trình hoạch định chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, đồng thời tổng kết các kinh nghiệm nâng cao lợi thế cạnh tranh của một số siêu thị trong nước và tập đoàn bán lẻ trên thế giới đặt cơ sở cho việc hoạch định một số giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020 ở chương 4.1 Cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cho đến nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội; thường xuyên được bàn luận trong các sách, báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về “cạnh tranh”. Trong nghiên cứu này, khái niệm cạnh tranh được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế và tựu chung dưới hai quan niệm truyền thống và hiện đại.1 Quan niệm truyền thống Xuất hiện từ giữa thế kỷ 17 cho đến những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 gắn liền với tên tuổi của các trường phái cạnh tranh cổ điển của các nhà kinh tế học Adam Smith, David Ricacrdo, John Stuart Mill, C.
Mark; trường phái cạnh tranh tân cổ điển của W. Walras; trường phái cạnh tranh dựa vào lý luận tổ chức ngành của E Chamberlin và J. Robinson; trường phái cạnh tranh Áo của C, Menger, L. Tuy nhiên, dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, hình thức biểu đạt của những quan niệm này có những sự khác nhau nhất định.
Tiếp cận dưới góc độ chủ thể của cạnh tranh, từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) ghi nhận: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị 17 chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất” [21, tr. Tiếp cận dưới góc độ phương thức cạnh tranh, từ điển kinh tế kinh doanh Anh Việt ghi nhận: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách hàng, do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất” [12, tr. Tiếp cận dưới góc độ mục đích của cạnh tranh, giáo trình Kinh tế học chính trị Mác Lênin viết: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh” [14, tr.
Như vậy mặc dù hình thức biểu đạt chưa thống nhất, nhưng nội hàm của khái niệm cạnh tranh theo quan niệm truyền thống đều phản ánh: Bản chất của cạnh tranh là quan hệ đối kháng. Bởi thế, các doanh nhân thường gọi: “thương trường là chiến trường” hay như cách nói của Gore Vidal9: “Chỉ thành công thôi chưa đủ, phải làm cho kẻ khác thất bại nữa”. Các bên tham gia cạnh tranh là các chủ thể kinh tế; Không gian diễn ra cạnh tranh là thị trường; Phương thức cạnh tranh là giá cả thấp hoặc hàng hóa có chất lượng tốt nhất; Mục đích của cạnh tranh là giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với các đối thủ. Vì vậy, một cách khái quát có thể hiểu: cạnh tranh kinh tế là một phạm trù phản ánh mối quan hệ đối kháng diễn ra trên thị trường giữa những chủ thể có cùng mục đích, nhằm giành cho mình lợi ích nhiều hơn so với các chủ thể khác.
Cạnh tranh kinh tế thực chất là cuộc chiến diễn ra trên thương trường giữa các chủ thể kinh tế (gọi là đối thủ). Mục đích của cạnh tranh theo Porter là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá bán có thể giảm đi.
9 Một chính trị gia, nhà văn, nhà biên kịch và phê bình nổi tiếng người Mỹ.2 Quan niệm hiện đại Xuất hiện vào thập niên 90 của thế kỷ XX trên cơ sở tổng kết thực tiễn cạnh tranh và dự báo những điều chỉnh của môi trường cạnh tranh trong điều kiện mới. Đó là: Thứ nhất, giá cả không còn là tiêu chuẩn cao nhất của cạnh tranh, là phương thức cạnh tranh trong mọi trường hợp. Thứ hai, dưới tác động của khoa học và công nghệ, sự phân công lao động phát triển làm cho ngành, nghề kinh doanh chỉ có tính chất tương đối gắn liền với một không gian và thời gian cụ thể. Thứ ba, thế giới chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức.
Đó là nền kinh tế lấy ngành công nghệ cao làm trụ cột. Vì thế, cạnh tranh quốc tế sẽ chuyển từ cạnh tranh chủ yếu dựa vào lợi thế về tài nguyên, nguồn vốn, lao động rẻ sang cạnh tranh dựa vào lợi thế về công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; định hướng kinh tế và chiến lược là sản xuất ra những ý tưởng mới chứ không chỉ là các sản phẩm cụ thể. Đặc trưng của sản phẩm không còn là riêng lẻ mà nằm trong một cấu trúc mạng, do đó phát triển sản phẩm phải gắn liến với xây dựng và phát triển hệ thống mạng, nghĩa là vấn đề liên kết và hợp tác trong cạnh tranh sẽ trở thành khuynh hướng tất yếu của thời đại [43, tr. Thứ tư, quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra những cơ hội và thách thức cho nhiều quốc gia trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Nhưng toàn cầu hóa cũng làm cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo mô hình xuất khẩu gặp bất lợi trước sức ép buộc các chính phủ phải thực hiện mở cửa để hội nhập thay thế chính sách thương mại tự chủ để hướng tới tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu. Nghĩa là, cạnh tranh quốc tế sẽ trở nên gay gắt, việc gia nhập thị trường sẽ trở nên khó khăn, độ rủi ro sẽ tăng cao. Hơn nữa, toàn cầu hóa là tất yếu, nhưng lợi ích của toàn cầu hóa không phải là chia đều cho các quốc gia, mà ngược lại các quốc gia phát triển với tư cách là những nhà thiết kế, áp đặt qui chế mậu dịch. Vì thế, họ sẽ được hưởng lợi nhiều hơn, trong khi đó các quốc gia kém phát triển sẽ không được hưởng lợi nhiều vì thực lực nền kinh tế yếu làm cho khả năng tận dụng các cơ hội và đối phó có hiệu quả với thách thức là không cao.
Bởi vậy, một mặt vai trò của “bàn tay hữu hình” không mất đi mà ngược lại sự điều tiết của chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng; nhưng mặt khác, một cách cứu cánh phổ biến được các quốc gia này áp dụng là gia nhập vào các liên minh kinh tế như EU, OECD, NAFTA, 19 AFTA, APEC, vv. Nghĩa là, cơ sở hoạch định chính sách thương mại quốc tế để điều tiết cạnh tranh của các quốc gia phải chuyển từ độc đoán sang đàm phán và hợp tác, hoặc thay vì dựa vào lợi thế so sánh thì phải chuyển sang dựa vào qui chế mậu dịch giữa các quốc gia với nhau, giữa các quốc gia với các khu vực mậu dịch, giữa các doanh nghiệp với chính phủ. Hệ quả của những sự điều chỉnh trên là quan niệm về cạnh tranh cũng đã có những điều chỉnh, thậm chí thay đổi: Theo Giáo sư Scott Hoenig10, ngày nay giá cả không phải là yếu tố quan trọng nhất trong quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Tập quán mua sắm, uy tín của thương hiệu, ảnh hưởng của quảng cáo và nhiều nhân tố khác có vai trò quan trọng hơn là giá cả góp phần thúc đẩy người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm một sản phẩm hay dịch vụ đặc thù nào đó.
Ông đã đưa ra một minh chứng cụ thể là trường hợp “2 đại gia” IBM và Microsoft có cơ cấu chi phí thuộc loại cồng kềnh nhất thế giới vì trả lương cao và đầu tư nhiều cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm, nhưng do doanh thu cao nên vẫn thu được lợi nhuận lớn. Ông nhấn mạnh việc tăng doanh thu có ý nghĩa hơn là giảm chi phí sản phẩm [10, tr. Theo Gary Hamel, bản chất của cạnh tranh và thậm chí bản chất của khách hàng đã thay đổi, vì thế cạnh tranh trong thế giới kinh doanh hiện nay không phải là cuộc chiến giữa các đối thủ đang tồn tại trong một ngành có ranh giới cấu trúc rõ ràng nhằm phân chia thặng dư kinh tế theo mô hình viên kim cương của Porter. Nghĩa là, thuật ngữ “ngành nghề kinh doanh” không còn mô tả chính xác tình hình kinh doanh nhập nhằng hiện nay.
Theo ông, cuộc chiến hiện nay là giành những cơ hội trong tương lai, vì thế không thể dùng sơ đồ “5 yếu tố cạnh tranh” của Porter để phân tích và lên kế hoạch kinh doanh, mà khả năng nắm bắt các cơ hội trong tương lai chính là điều quyết định then chốt, vì chúng ta không thể đón đầu tương lai bằng những công cụ của quá khứ [10, tr. Bernard Baruch – một nhà tài phiệt ngân hàng hàng đầu của thế kỷ XX phản đối hoàn toàn quan điểm của Gore Vidal11: “Chỉ thành công thôi chưa đủ phải làm cho kẻ khác thất bại nữa”, ông cho rằng: “Không cần phải thổi tắt ngọn nến của người khác để mình tỏa sáng.