CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về lợi nhuận của doanh nghiệp 1. Khái niệm lợi nhuận Bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động thì điều cuối cùng mà một doanh nghiệp hướng tới lợi nhuận. Lợi nhuận có ảnh hưởng quan trọng tới sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung.
Khi có lợi nhuận, doanh nghiệp mới có thể đầu tư sản xuất, mở rộng kinh doanh, nâng cao chất lượng đời sống cho các cán bộ công nhân viên của công ty, khoản đóng góp bằng thuế cho ngân sách nhà nước cũng ngày càng gia tăng. Vậy lợi nhuận là gì và được định nghĩa như thế nào? “Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động mà doanh nghiệp mang lại” (Lê Thị Xuân, 2015) “Sau một chu kỳ hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận, đó là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định” (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Minh, 2015) Vậy từ những khái niệm trên chúng ta có thể rút ra kết luận lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu của doanh nghiệp và chi phí mà doanh nghiệp đó đầu tư vào hoạt động sản xuất để đạt được mức doanh thu ấy. Lợi nhuận được coi là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh, sản xuất… của doanh nghiệp. Nó cũng chính là cơ sở, là nền tảng để đánh giá hiệu quả kinh tế từ hoạt động của các doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định từ đó đưa ra phương hướng phát triển cụ thể cho doanh nghiệp trong tương lai.
Bản chất của lợi nhuận Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về lợi nhuận là do lĩnh vực ngoại thương mà có. Khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng bằng con đường ngoại thương, trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu (nhập ít, xuất nhiều). Và “lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt, như chiến tranh. Họ cho rằng, không một người nào thu được lợi mà không làm kẻ khác 5 thiệt.
Tuy nhiên quan điểm này chưa được đánh giá cao vì các nhà kinh tế chưa thoát khỏi lĩnh vực lưu thông và cho rằng lợi nhuận chỉ tạo ra nhờ lưu thông mà không có sản xuất vì thực chất các nhà kinh tế chưa hiểu được mối quan hệ giữa lưu thông hàng hóa và tiền tệ nên dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong kinh tế. Cùng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản tư bản chủ nghĩa, học thuyết kinh tế của những người trọng thương trở thành phiến diện lỗi thời đòi hỏi phải có lý luận mới và trên cơ sở đó kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra và đi đầu là William Petty định nghĩa “Địa tô là số chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và chi phí sản xuất bao gồm chi phí tiền lương và chi phí giống má.Petty là Adam Smith chỉ ra rằng “Lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của lao động, là một trong những nguồn gốc đầu tiên của thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi. Ông cho rằng giá cả lao động nông nghiệp và lao động công nghiệp đều tạo ra lợi nhuận. Cùng quan điểm với hai nhà kinh tế trên là David Ricardo khi cho rằng lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công.
Ông coi lợi nhuận là lao động không được trả công của công nhân. Ricardo đã có những nhận xét tiến gần đến lợi nhuận bình quân, ông cho rằng những tư bản có đại lượng bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau. Cho đến khi K.Marx nghiên cứu thành công học thuyết giá trị thặng dư, ông chỉ ra rằng giá trị thặng dư chính là phần dôi ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị tư bản chiếm khống. Ông khẳng định: “Lợi nhuận có nguồn gốc từ giá trị thặng dư nhưng không phải giá trị thặng dư mà chỉ là biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dư, là kết quả lao động không công của công nhân” Kết luận: Bản chất của lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh là giá trị thặng dư và là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư.
Nguồn gốc của lợi nhuận là do phần giá trị được tạo bởi người lao động dư ra ngoài tiền công được trả cho người lao động. Nếu dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì phần giá trị dư ra này được thuộc về các nhà tư bản và từ đó mới sinh ra mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội. Nhưng trong chế độ tư bản chủ nghĩa thì phần giá trị còn lại này được dùng để 6 tái sản xuất phục vụ lợi ích không chỉ cho nhà sản xuất mà còn cả người lao động, góp phần xây dựng phát triển đất nước. Vai trò của lợi nhuận Lợi nhuận đóng vai trò then chốt trong việc họat động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
Nó không chỉ ảnh hưởng đến các ông chủ, các nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến chính lợi của từng người lao động. Mà mỗi một cá thể hợp lại sẽ là cả một xã hội, một đất nước. Vậy nên lợi nhuận đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế. Doanh nghiệp Người lao động Xã hội • Thanh toán nợ, quay • Lợi nhuận dùng để chi • Một phần lợi nhuận vòng vốn, mở rộng sản trả lương thưởng, trợ của doanh nghiệp sẽ xuất kinh doanh cấp, bảo hiểm cho dùng để đóng góp vào • Khi có lãi, doanh người lao động.
ngân sách nhà nước. nghiệp sẽ có thể tái đầu • Chế độ đãi ngộ cao sẽ Là công cụ giúp nhà tư, mở rộng quy mô tạo điều kiện sống tốt nước điều tiết lại nền sản xuất, cải tiến trang hơn cho người lao kinh tế, nâng cao phúc thiết bị, từ đó hạ giá động, giúp họ cảm thấy lợi xã hội, cải thiện thành sản phẩm, thu hào hứng khi làm việc chất lượng đời sống hút khách hàng. và cống hiến cho công nhân dân. Các loại lợi nhuận của doanh nghiệp Việc xác định được phương pháp tính lợi nhuận là vô cùng quang trọng vì nhìn vào đó doanh nghiệp sẽ biết được chính xác lợi nhuận hiện có là bao nhiêu, biết được bản chất của lợi nhuận để quản lý doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu cung cấp và sử dụng thông tin khác nhau.
Trên BCKQKD của doanh nghiệp các chỉ tiêu lợi nhuận thường được tính là: Lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận khác và lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận gộp Lợi nhuận gộp là phần lợi nhuận mà công ty kiếm được sau khi trừ chi phí liên quan đến việc sản xuất và bán sản phẩm, hoặc chi phí liên quan đến việc cung cấp dịch vụ của công ty. (Nguồn: Trích Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2018) Từ đó suy ra công thức tính lợi nhuận gộp là: Lợi nhuận gộp = Doanh thu bán hàng - Giá vốn hàng bán Trong đó: Doanh thu thuần là khoản doanh thu bán hàng sau khi đã trừ hết đi các khoản giảm trừ từ doanh thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, các khoản chi chiết khấu thương mại, giảm giá hàng hóa bán, doanh thu hàng hóa bán bị trả lại,… Giá vốn hàng bán sẽ là toàn bộ các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra một sản phẩm. Số tiền này bao gồm chi phí của các vật liệu được sử dụng để tạo ra hàng hóa cùng với chi phí lao động trực tiếp được sử dụng để sản xuất hàng hóa.
Sự hình thành giá vốn hàng hóa bán được phân biệt ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng tổng lợi nhuận của các hoạt động trong doanh nghiệp: bao gồm lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác (Lê Thị Xuân, 2018). Trong đó lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh 8 doanh chiếm phần lớn và có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. (Trích Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2018) Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh = Doanh thu thuần – GVHB + Doanh thu HĐTC – Chi phí HĐTC – CPBH – CPQLDN Trong đó: Doanh thu thuần: Là khoản doanh thu thu được từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ sau khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biết, giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại cho khách hàng hay hàng bàn bị trả lại.
Doanh thu hoạt động tài chính: Là những khoản thi do hoạt động đầu tư tài chính hoặc chứng khoán về vốn mang lại bao gồm: lãi liên doanh, liên kết, cổ tức được chia, mua, bán chứng khoán, ngoại tệ,… Chi phí hoạt động tài chính: là chi phí có liên quan đến hoạt động đầu tư vốn, huy động vốn, hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm: chi phí liên doanh, liên kết, chi phí mua bán ngoại tệ chứng khoán, chi phí trả lãi vay, cho vay vốn,… 9 Chi phí bán hàng: là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí vật liệu bao bì, chi phí đồ dùng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa (trừ hoạt động xấy lắp)…. Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức các hoạt động doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó phải bỏ ra để vận hành của mình bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, vật liệu quản lý, đồ dùng văn phòng,…. Lợi nhuận từ hoạt động khác Lợi nhuận từ hoạt động khác là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động khác và chi phí hoạt động khác. Trong đó: Thu nhập khác: được định nghĩa là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thường xuyên và không thuộc các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh ghi trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm tiền thu nhượng bán, thanh lý TSCĐ, tiền thu từ bảo hiểm được các tổ chức bồi thường, 10 khoản thu về tiền phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế, thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý, thu nhập từ chênh lệch tỷ giá,….