phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, 5 phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên 99, Tổng Công ty Xây dựng Trƣờng Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty TNHH một thành viên 99, Tổng Công ty Xây dựng Trƣờng Sơn. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh Phạm trù vốn kinh doanh luôn gắn liền với khái niệm doanh nghiệp. Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
[6] Mỗi doanh nghiệp đều có đặc thù riêng, song tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đều cần phải có sự kết hợp của 3 yếu tố đầu vào cơ bản sau: Sức lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động. Để có đƣợc 3 yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một lƣợng lớn vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Lƣợng vốn tiền tệ đó đƣợc gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những phân tích trên có thể hiểu vốn kinh doanh nhƣ sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
[12] Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng xuyên vận động và chuyển hoá từ hình thái này sang hình thái khác phù hợp với các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trƣớc hết doanh nghiệp phải bỏ ra một lƣợng tiền nhất định đầu tƣ mua sắm các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Lúc này, vốn kinh doanh chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật chất dƣới dạng các yếu tố cơ bản của quá trình sản 7 xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm, hàng hoá. Khi doanh nghiệp đem các sản phẩm, hàng hoá đi tiêu thụ để thu tiền về thì vốn kinh doanh lại chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái ban đầu là tiền tệ và hoàn thành 1 vòng chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Sự vận động của vốn kinh doanh nhƣ vậy đƣợc gọi là sự tuần hoàn vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành nghề kinh doanh.
Chẳng hạn, đối với những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thƣơng mại, dịch vụ thì tốc độ chu chuyển vốn kinh doanh nhanh, còn những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất thì lại có tốc độ chu chuyển vốn chậm. Đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh Việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trƣng của vốn kinh doanh trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp quản lý sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả hơn. Sau đây là những đặc trƣng chủ yếu của VKD: [11] + Vốn phải đƣợc đại diện cho một lƣợng tài sản nhất định: Nói cách khác, vốn là biểu hiện về giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp. Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản và ngƣợc lại.
+ Vốn phải đƣợc vận động để sinh lời: Vốn biểu hiện là tiền nhƣng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để trở thành vốn thì tiền phải đƣợc vận động với mục đích sinh lời, nghĩa là tiền chỉ trở thành vốn khi chúng đƣợc đƣa vào sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vận động, tiền có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhƣng kết thúc vòng tuần hoàn nó phải trở về hình thái ban đầu là tiền với giá trị lớn hơn, tức là kinh doanh có lãi. Điều này đòi hỏi trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp không đƣợc để vốn bị ứ đọng.
8 + Vốn có giá trị về mặt thời gian: Điều này có nghĩa là đồng vốn tại các thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau. Do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học công nghệ không ngừng nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác nhau lại khác nhau. + Vốn phải đƣợc tích tụ, tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời: Đặc trƣng này đòi hỏi doanh nghiệp phải lập kế hoạch để huy động đủ lƣợng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu đầu tƣ và trong quá trình kinh doanh cần tái đầu tƣ thu lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. + Vốn là loại hàng hoá đặc biệt và cũng nhƣ mọi hàng hoá khác nó có giá trị và giá trị sử dụng: Giống nhƣ các loại hàng hoá khác, “hàng hoá vốn” cũng đƣợc mua đi bán lại trên thị trƣờng.
Tuy nhiên, ngƣời ta chỉ mua đƣợc quyền sử dụng vốn mà không mua đƣợc quyền sở hữu. Khi sử dụng “hàng hoá vốn” sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn. “Hàng hoá vốn” đƣợc mua bán trên thị trƣờng dƣới hình thức mua bán quyền sử dụng vốn. Giá mua bán chính là lãi suất mà ngƣời vay vốn phải trả cho ngƣời cho vay vốn để có quyền sử dụng lƣợng vốn đó.
Đặc trƣng này cần đƣợc lƣu ý vì trong nền kinh tế thị trƣờng, chính đặc trƣng này đã làm xuất hiện khái niệm về chi phí vốn. + Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau: Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của cả tài sản vô hình. Đặc trƣng mà giúp doanh nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó có thể đƣa ra các biện pháp phát huy tổng hợp của vốn kinh doanh. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều loại, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả ngƣời ta thƣờng phân loại vốn theo các tiêu thức nhất định. Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư [5] Theo tiêu thức này vốn kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc chia thành vốn kinh doanh đầu tƣ vào tài sản lƣu động, tài sản cố định và tài sản tài chính của doanh nghiệp. - VKD đầu tƣ vào TSLĐ là số vốn đầu tƣ để hình thành các tài sản lƣu động phục vụ cho hoạt động SXKD của DN, bao gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật tƣ hàng hoá, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của DN. - VKD đầu tƣ vào TSCĐ là số vốn đầu tƣ để hình thành các TSCĐ hữu hình và vô hình, nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, các khoản chi phí mua bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm độc quyền, giá trị lợi thế về vị trí địa điểm kinh doanh của DN.
- VKD đầu tƣ vào tài sản tài chính là số vốn DN đầu tƣ vào các tài sản tài chính nhƣ cổ phiếu, trái phiếu DN, trái phiếu Chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tƣ và các giấy tờ có giá khác. Mỗi loại tài sản đầu tƣ của DN có thời hạn sử dụng và đặc điểm thanh khoản khác nhau. Điều này có ảnh hƣởng rất lớn đến thời gian luân chuyển của VKD cũng nhƣ mức độ rủi ro trong sử dụng VKD của DN. Vì thế cách phân loại trên giúp cho DN có thể lựa chọn đƣợc cơ cấu tài sản đầu tƣ hợp lý, hiệu quả.
Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của vốn Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn có thể chia VKD thành hai loại: vốn cố định và vốn lƣu động. [12] * Vốn cố định của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trƣờng, để có đƣợc các tài sản cố định cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trƣớc một lƣợng vốn tiền tệ nhất định. Lƣợng vốn tiền tệ này đƣợc gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. Từ đó, có thể định nghĩa: “Vốn cố định là biểu hiện bằng 10 tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp” hay nói cách khác “Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng luân chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị”.
Vốn cố định có một số đặc điểm sau: + Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển giá trị dần dần từng phần và đƣợc thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh. + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển. + Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất đƣợc tài sản cố định về mặt giá trị, tức là thu hồi đƣợc tiền khấu hao tài sản cố định. Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh.
Việc tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nghề nói chung có tác động lớn đến việc tăng cƣờng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế. Do vậy, việc quản lý vốn cố định đƣợc coi là một vấn đề quan trọng của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. * Vốn lưu động của doanh nghiệp Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài sức lao động, tƣ liệu lao động, doanh nghiệp cần có đối tƣợng lao động nhƣ nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm. Khác với tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra.