Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng sử dụng vốn tại Tổng Công ty Bảo Việt Nhân Thọ Chương 4: Khuyến nghị và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Tổng Công ty Bảo Việt Nhân Thọ 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QU N TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦ DO NH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học, các bài nghiên cứu trên các tạp chí trong nƣớc và quốc tế về hiệu quả sử dụng vốn lƣu động hoặc hiệu quả sử dụng vốn có định hoặc cả hai trong doanh nghiệp. Hầu hết các công trình trƣớc đó đều dựa trên các lý thuyết sẵn có áp dụng vào các doanh nghiệp cụ thể để nghiên cứu, từ các kết quả thu đƣợc đƣa ra những nhận xét, đánh giá phù hợp về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp. Johanson & Malmqvit (2023) đã trình bày đƣợc đầy đủ khuôn khổ lý thuyết về hiệu quả sử dụng vốn lƣu động, là một bộ phận của vốn, liên quan đến tốc độ chu chuyển của tiền mặt và mức dự trữ hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
Kasiran & Mohamad, (2016) đã phân tích hiệu quả quản lý vốn lƣu động tại một số công ty doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc lựa chọn ở Malaysia. Dữ liệu thứ cấp đƣợc lấy từ Suruhanjaya Syarikat Malaysia - cơ sở dữ liệu của 24 công ty đƣợc chọn ngẫu nhiên từ trang web của SME Corp trong thời gian 4 năm từ 2010-2013. Để phân tích hiệu quả quản lý vốn lƣu động, ba chỉ số đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là chỉ số hiệu quả quản lý vốn lƣu động (PIWCM), hiệu quả sử dụng chỉ số quản lý vốn lƣu động (UIWCM) và chỉ số hiệu quả quản lý vốn lƣu động (EIWCM). Kết quả chỉ ra rằng công ty đang thiếu một hệ thống hiệu quả để kết hợp sự vận hành dây chuyền với các đơn đặt hàng mới, do đó có xu hƣớng làm chậm vòng quay hàng tồn kho.
Từ đó, đề xuất cải tiến bao gồm việc điều chỉnh chế độ xem toàn diện hơn giữa các quy trình, chức năng và tác nhân thông qua giao tiếp và chia sẻ thông tin tốt hơn cũng nhƣ cải thiện chức năng tìm kiếm và phân bổ cho các công cụ. Farrah và cộng sự (2016) đã phân tích hiệu quả quản lý vốn lƣu động tại một số công ty doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc lựa chọn ở Malaysia. Dữ liệu thứ cấp đƣợc lấy từ Suruhanjaya Syarikat Malaysia- cơ sở dữ liệu của 24 công ty đƣợc chọn ngẫu nhiên từ trang web của SME Corp trong thời gian 4 năm từ 2010-2013. Để 4 phân tích hiệu quả quản lý vốn lƣu động, ba chỉ số đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là chỉ số hiệu quả quản lý vốn lƣu động (PIWCM), hiệu quả sử dụng chỉ số quản lý vốn lƣu động (UIWCM) và chỉ số hiệu quả quản lý vốn lƣu động (EIWCM).
Kết quả cho thấy công ty doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc chọn quản lý vốn lƣu động kém hiệu quả hơn trong nghiên cứu này. Africa và cộng sự (2022) đã phân tích đƣờng biên ngẫu nhiên (SFA) để lập mô hình hiệu quả vốn lƣu động trên một mẫu gồm 6170 công ty châu Âu từ năm 2009 đến 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy: các công ty lớn hơn quản lý vốn lƣu động hiệu quả hơn so với các công ty nhỏ hơn; khi doanh nghiệp có tỷ lệ nắm giữ tiền mặt cao hơn sẽ góp phần tạo ra hiệu quả sử dụng vốn lƣu động; trong bối cảnh cạnh tranh cao sẽ ít có lợi cho việc sử dụng vốn lƣu động hơn so với môi trƣờng cạnh tranh thấp; tiềm năng tăng trƣởng xuất khẩu và bán hàng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lƣu động và hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tăng khi tiếp cận tín dụng ngân hàng. Trong phân tích, có sự khác biệt giữa các nƣớc châu âu “cũ” và các nƣớc châu âu “mới”.
Kết quả rất nhạy cảm với năm gia nhập liên minh châu âu EU. Từ kết quả đó, đƣa ra kiến nghị về việc quản lý vốn lƣu động hiệu quả các doanh nghiệp tại Châu âu. Đỗ Văn Đạt (2022) đã phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn lƣu động, thực trạng sử dụng vốn lƣu động của công ty cổ phần hàng không Hành Tinh Xanh giai đoạn 2019-2021- khi dịch bệnh covid-19 đang diễn ra và mang đến nhiều bất lợi từ yếu tố vĩ mô. Từ các kết quả thu đƣợc, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động của công ty trong giai đoạn tiếp theo.
Abdulkareem & Ahmed Mahdi (2023) đã tiến hành nghiên cứu nhằm phân tích tác động của hiệu quả quản lý vốn lƣu động và tính linh hoạt tài chính trong chênh lệch tăng trƣởng bền vững, bằng cách áp dụng nó vào một mẫu bao gồm 6 công ty công nghiệp của Iraq đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Iraq và các công ty này chiếm 25% tổng số cộng đồng nghiên cứu và trong giai đoạn (2005- 2014). Nghiên cứu đã đƣa ra một số kết quả, trong đó quan trọng nhất là có ảnh 5 hƣởng đáng kể của hiệu quả sử dụng vốn lƣu động và tỷ lệ đòn bẩy tài chính đến sự tăng trƣởng bền vững. Dựa trên điều này, khuyến nghị cho các công ty công nghiệp của Iraq phải tính đến các biến số này khi lập kế hoạch làm cho khoảng cách tăng trƣởng bền vững ở trạng thái cân bằng. Purakala (2023) đã đánh giá hiệu quả quản lý vốn lƣu động đến khả năng sinh lời ở một số công ty ô tô trong giai đoạn 2011-2012 và 2020-2021.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ báo cáo hàng năm của các công ty và các chỉ tiêu đƣợc xét đến bao gồm: tỷ lệ vòng quay vốn lƣu động, tỷ lệ vòng quay hàng tồn kho, tỷ lệ vòng quay khoản phải thu, tỷ lệ vòng quay tiền mặt, tỷ lệ thanh khoản, tỷ suất lợi nhuận trƣớc thuế trên tài sản. Kết quả cho thấy mối quan hệ tƣơng quan giữa tỷ suất vốn lƣu động và tỷ suất sinh lời là tỷ lệ thuận, từ đó cũng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại các công ty ô tô và đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động. Abdulaziz (2021) đã phân tích chất lƣợng và chỉ tiêu định lƣợng về sử dụng hiệu quả vốn cố định, đƣa ra kết luận về ƣớc tính tài sản cố định, tính kinh tế và tính tái sử dụng của chúng trong vận tải đƣờng sắt. Để tiến hành phân tích, bài nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp: phân tích hệ thống, phân tích kinh tế và thống kê, phân tích nhân tố, thống kê toán học đƣợc mô tả trong các công trình của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc với một số chỉ tiêu nhƣ: Tỷ lệ đầu vào của tài sản cố định, hệ số thanh lý tài sản cố định, hệ số hao mòn tài sản cố định,… Từ đó đánh giá đƣợc mức hiệu quả sử dụng sử dụng tài sản cố định trong ngành vận tải đƣờng sắt và đề xuất ra số vòng quay tài sản cố định tối ƣu ở từng giai đoạn sản xuất.
Phạm Thị Nga & Trần Dƣ Bình (2016) đã phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền nam trong giai đoạn 2012-2015 thông qua một số chỉ tiêu nhƣ: Tỷ suất sinh lời trên vốn kinh doanh, vòng quay vốn, thời gian luân chuyển vốn, hiệu quả sử dụng vốn, hàm lƣợng vốn cố định, tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định,…Từ đó chỉ việc sử dụng vốn kinh doanh và vốn cố định chƣa tối ƣu của doanh nghiệp và đƣa ra giải pháp khắc phục. 6 Huỳnh Chí Giỏi (2018) đã nghiên cứu hiện trạng sử dụng vốn tại Công ty cổ phần cảng Đồng Nai trong giai đoạn 2014-2017 trên cơ sở khung khổ lý thuyết về vốn và hiệu quả sử dụng vốn đã có sẵn với các chỉ tiêu nhƣ: Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu, Sức sinh lời của vốn, vòng quay của vốn, hiệu quả sử dụng TSCĐ, Sức sinh lời của vốn cố định,… Từ đó chỉ ra các nhƣợc điểm trong quy trình sử dụng vốn của doanh nghiệp và đƣa ra kiến nghị về việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Nguyễn Ngọc Phú (2019) dựa trên số liệu thực tế đƣợc cung cấp tại Chi nhánh và dữ liệu thứ cấp trên báo cáo tài chính về thực trạng sử dụng vốn kinh doanh đã phân tích hoạt động sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Mía đƣờng Sơn La. Trong đề tài này tác giả đã sử dụng các phƣơng pháp nhƣ so sánh, thống kê các chỉ tiêu liên quan đến hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh và các chỉ số của thị trƣờng nhƣ phần bù rủi ro thị trƣờng, hệ số rủi ro Beta.
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phần mềm Excel phân tích tính toán sự tƣơng quan giữa chỉ số ROE với các chỉ số nhƣ: Môi trƣờng kinh tế xã hội, vòng quay Vốn lƣu động, vòng quay Vốn cố định, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng Tài sản của Công ty cổ phần Mía đƣờng Sơn La. 7 Khoảng trống nghiên cứu Qua nghiên cứu, phân tích từ những công trình trên, hầu hết các công trình đều sử dụng các lý thuyết kinh tế chung đã có sẵn về vốn và hiệu quả sử dụng vốn để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ở doanh nghiệp cụ thể đƣợc nghiên cứu, sau đó đƣa ra các khuyến nghị với từng doanh nghiệp đƣợc nghiên cứu. Tuy nhiên đều phần lớn là các đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nhƣng có rất ít nghiên cứu xem xét đến hiệu quả sử dụng vốn tại công ty bảo hiểm nhân thọ- một loại hình doanh nghiệp có nhiều vấn đề đặc thù về vốn khi mà vốn cố định chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là vốn lƣu động và dòng tiền sinh ra từ doanh thu hoạt động kinh doanh chính lại không phải là nguồn chính tạo ra lợi nhuận mà lại đƣợc luân chuyển qua hoạt động đầu tƣ tài chính để sinh lời.