CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm Tài sản ngắn hạn là một nhân tố quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, quyết định trực tiếp đến tính liên tục, ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại. Định nghĩa về tài sản ngắn hạn có rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau.
Nguyễn Năng Phúc (2008), theo tác giả: “Một tài sản được xếp vào loại tài sản ngắn hạn, khi tài sản này được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của một chu kỳ kinh doanh bình thường; hoặc được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hay cho mục đích ngắn hạn và dự kiến thu hồi hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc niên độ; hoặc là tiền hoặc tài sản tương đương tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào”. Trần Ngọc Thơ (2009), tác giả đưa ra khái niệm: “Tài sản ngắn hạn hay cũng gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm hay trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác”. Lê Thị Xuân (2015) cho rằng: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian thu hồi vốn hoặc thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp”.
Đối với mỗi doanh nghiệp, lĩnh vực khác nhau, tài sản ngắn hạn lại được hiểu theo những cách riêng. Trong khuôn khổ bài khóa luận này, tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng ước tính trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh và chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Phân loại tài sản ngắn hạn Tùy theo tính chất vận động của tài sản ngắn hạn và yêu cầu của nhà quản lý, tài sản ngắn hạn được phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Có 3 cách phân loại chủ yếu thường được sử dụng: phân loại theo hình thái biểu hiện, phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán.
Phân loại theo hình thái biểu hiện Căn cứ vào hình thái biểu hiện, tài sản ngắn hạn được chia thành 2 loại - Tiền, các khoản phải thu và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: + Tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Đây là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, có thể dùng để dự trữ và đảm bảo khả năng thanh toán nhanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, loại tài sản này không hoặc gần như không sinh lợi, bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo khả năng thanh khoản vừa tận dụng được các cơ hội đầu tư là một vấn đề cần các nhà quản trị quan tâm. + Các khoản phải thu: gồm các khoản phải thu từ khách hàng, ứng trước cho nhà cung cấp, phải thu nội bộ,… + Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu,.) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm.
- Hàng tồn kho: + Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dự trữ như nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và công cụ dụng cụ, vật liệu bao bì đóng gói. phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: các sản phẩm dở dang, các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn của dây chuyền sản xuất. + Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm, là giá trị những sản phẩm đã sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn và đã được nhập kho.
8 Cách phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý, đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến tài sản ngắn hạn là tiền và là hiện vật của doanh nghiệp. TSNH bằng tiền thì thường bị ảnh hưởng bởi tỷ giá ngoại tệ, lãi suất ngân hàng, còn TSNH bằng hiện vật thì ảnh hưởng bởi các nhân tố như biến động giá cả nguyên vật liệu đầu vào, giá bán hàng hóa, rủi ro trong khâu tiêu thụ. Từ đó, nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả hơn. Phân loại theo hình thái vai trò của tài sản ngắn hạn với quá trình sản xuất kinh doanh Căn cứ vào các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn được phân thành 3 loại: - TSNH trong khâu dự trữ sản xuất: Là toàn bộ TSNH tồn tại trong khâu dự trữ sản xuất mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, hàng gửi đi bán.
- TSNH trong khâu trực tiếp sản xuất: gồm sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển,… - TSNH trong khâu lưu thông: gồm có thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản phải thu khách hàng, đầu tư ngắn hạn. Cách phân loại này giúp doanh nghiệp dễ dàng đánh giá tình hình phân bổ và sử dụng tài sản ngắn hạn trong từng khâu của quy trình sản xuất kinh doanh, từ đó tạo tiền đề đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong từng khâu. Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Dựa theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán, TSNH gồm 5 loại: - Tiền và các khoản tương đương tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản cao có thời hạn gốc không quá ba tháng, có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền và không có nhiều rủi ro trong khi chuyển đổi. 9 - Đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, tiền gửi có kỳ hạn, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn.
- Các khoản phải thu ngắn hạn: các khoản phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác, dự phòng các khoản phải thu khó đòi. - Hàng tồn kho: gồm nguyên liệu, vật liệu; công cụ, dụng cụ; sản phẩm dở dang; hàng mua đang đi đường; thành phẩm, hàng hóa; hàng gửi bán; hàng hóa được lưu giữ tại kho bảo thuế của doanh nghiệp và dự phòng giảm giá hàng tồn kho. - Tài sản ngắn hạn khác: các khoản tạm ứng, chi phí trả trước cho người bán, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà nước. Theo cách phân loại này, doanh nghiệp có cơ sở để phân tích và xác định các khoản mục nào cần ưu tiên quản lý và tài trợ để đem lại hiệu quả tốt nhất.
Đây cũng là cách phân loại mà hiện nay được nhiều doanh nghiệp áp dụng. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Một trong những đặc điểm dễ nhận biết của tài sản ngắn hạn đó là vận động không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu của quá trình kinh doanh và giá trị của tài sản ngắn hạn được chuyển hóa toàn bộ vào giá trị sản phẩm khi kết thúc một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Lê Thị Xuân (2015), nêu rõ đặc điểm của tài sản ngắn hạn: - Tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thái biểu hiện trong suốt quá trình kinh doanh, đối với các doanh nghiệp sản xuất hình thái TSNH là T - H - SX - H’ - T’; đối với các doanh nghiệp thương mại, hình thái TSNH là T - H - T’. - Giá trị tài sản ngắn hạn được chuyển dịch toàn bộ một lần vào mỗi chu kỳ kinh doanh.
- Tài sản ngắn hạn hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh. - Toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn được thu hồi sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh tại doanh nghiệp. Cùng quan điểm như trên, theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp của TS. Bùi Văn Vần & TS.
Vũ Văn Ninh (2013), TSNH có một số đặc điểm chính như sau: 10 Một là, tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển trong một chu kỳ kinh doanh, đây là đặc điểm dễ nhận biết và phân biệt với tài sản dài hạn. Hai là, tài sản ngắn hạn sẽ chuyển hết toàn bộ giá trị vào sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, mọi chi phí phát sinh trong quá trình chuyển hóa tài sản ngắn hạn thành sản phẩm hoàn thiện đều được ghi nhận vào giá thành của sản phẩm. Ba là, tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra sản phẩm, đây là đặc điểm dễ thấy của tài sản ngắn hạn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp tập trung vào lĩnh vực sản xuất.
Bốn là, các loại tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ chuyển đổi thành tiền mặt hoặc các tài sản tương đương tiền. Vai trò của tài sản ngắn hạn Dù hoạt động trong lĩnh vực nào, doanh nghiệp cũng cần có tài sản ngắn hạn để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ của mình. Do đó, tài sản ngắn hạn có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. TSNH có những vai trò chủ yếu như sau: Một là, tài sản ngắn hạn là nhân tố quan trọng giúp quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục từ khâu nhập nguyên nhiên vật liệu, sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sản phẩm.
Hàng tồn kho đảm bảo phục vụ nhu cầu sản xuất, mở rộng thị phần, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hai là, tài sản ngắn hạn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thấp, kéo dài thường xuất hiện dấu hiệu rủi ro tài chính, nguy cơ phá sản vẫn có thể xảy ra kể cả trong điều kiện chỉ tiêu khả năng thanh toán tổng quát cao.