Sự thay đổi kiến thức thái độ của học sinh phổ thông trung học sau can thiệp giáo dục an toàn tình dục tại thành phố sa đéc

Tài liệu nghiên cứu Sự thay đổi kiến thức thái độ của học sinh phổ thông trung học sau can thiệp giáo dục an toàn tình, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Sản Phụ Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2021

182
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Các khái niệm về sức khỏe sinh sản (SKSS) vị thành niên

1.2. Thay đổi tâm - sinh lý VTN

1.3. Tình hình giáo dục giới tính trên thế giới và Việt Nam

1.4. Tình dục tuổi vị thành niên

1.5. Thực trạng quan hệ tình dục tuổi vị thành niên

1.6. Những nghiên cứu về tình dục an toàn

1.7. Giảng dạy tình dục an toàn ở trẻ vị thành niên

1.8. Địa điểm nghiên cứu tại thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn chọn mẫu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Chọn bộ câu hỏi

2.6. Phương pháp tiến hành lấy mẫu

2.7. Bảng điểm kiến thức - thái độ

2.8. Lợi ích mong đợi

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

3.2. Kiến thức đúng về các biện pháp tránh thai (BPTT)

3.3. Kiến thức đúng HIV-STIs và an toàn tình dục

3.4. Kiến thức đúng về bao cao su (BCS) sau can thiệp

3.5. Thái độ đúng về sử dụng BCS sau can thiệp giảng dạy

3.6. Thái độ về quan niệm tình yêu, tình dục sau can thiệp giảng dạy

3.7. Phân tích hồi qui đơn biến về kiến thức, thái độ trước và sau can thiệp

3.8. Liên quan kiến thức biện pháp tránh thai với đặc điểm ĐTNC

3.9. Phân tích liên quan: kiến thức BCS với đặc điểm ĐTNC

3.10. Phân tích liên quan: kiến thức HIV-STIs với đặc điểm ĐTNC

3.11. Phân tích mối liên quan: kiến thức ATTD với đặc điểm ĐTNC

3.12. Phân tích mối liên quan: thái độ về sử dụng BCS với đặc điểm ĐTNC

3.13. Phân tích liên quan: thái độ về tình yêu-tình dục với đặc điểm ĐTNC

3.14. Liên quan giữa kiến thức đúng trước và sau học với đặc điểm ĐTNC

3.15. Đánh giá chương trình giáo dục giới tính – tình dục

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về nghiên cứu

4.2. Đặc điểm các đối tượng nghiên cứu

4.3. Sự thay đổi kiến thức -sinh độ của học sinh sau tham dự lớp học

4.4. Đánh giá đề tài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về An Toàn Tình Dục Cho Học Sinh Trung Học

An toàn tình dục là một khái niệm quan trọng trong giáo dục giới tính, đặc biệt đối với học sinh trung học. Việc nâng cao kiến thức tình dụcthái độ về tình dục giúp học sinh có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống. Tại Sa Đéc, việc giáo dục an toàn tình dục chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến nhiều hệ lụy cho sức khỏe sinh sản của học sinh. Cần có những chương trình giáo dục hiệu quả để trang bị cho học sinh những kiến thức cần thiết.

1.1. Khái Niệm Về An Toàn Tình Dục

An toàn tình dục bao gồm việc hiểu biết về các biện pháp tránh thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách thực hành tình dục an toàn. Điều này giúp học sinh tránh được những rủi ro không đáng có trong quan hệ tình dục.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Giới Tính

Giáo dục giới tính không chỉ giúp học sinh hiểu rõ về cơ thể mình mà còn trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để bảo vệ sức khỏe sinh sản. Việc này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn và bệnh lây truyền qua đường tình dục đang gia tăng.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Giáo Dục An Toàn Tình Dục

Mặc dù giáo dục an toàn tình dục là cần thiết, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc triển khai chương trình này tại Sa Đéc. Sự thiếu hụt thông tin và sự ngần ngại của giáo viên trong việc giảng dạy là những vấn đề chính. Hơn nữa, nhiều học sinh vẫn còn e ngại khi thảo luận về các vấn đề liên quan đến tình dục.

2.1. Thiếu Thông Tin và Tài Nguyên

Nhiều học sinh không có đủ thông tin về sức khỏe sinh sảnan toàn tình dục. Điều này dẫn đến việc các em không biết cách bảo vệ bản thân khỏi các rủi ro trong quan hệ tình dục.

2.2. Sự Ngần Ngại Của Giáo Viên

Giáo viên thường cảm thấy khó khăn khi phải giảng dạy về các vấn đề nhạy cảm như tình dục. Điều này làm giảm hiệu quả của chương trình giáo dục giới tính trong trường học.

III. Phương Pháp Nâng Cao Kiến Thức Về An Toàn Tình Dục

Để nâng cao kiến thức và thái độ về an toàn tình dục cho học sinh, cần áp dụng các phương pháp giáo dục hiệu quả. Các chương trình giảng dạy nên được thiết kế phù hợp với độ tuổi và tâm lý của học sinh. Việc sử dụng các tài liệu giáo dục sinh động và thực tế sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức.

3.1. Sử Dụng Tài Liệu Giáo Dục Đa Dạng

Tài liệu giáo dục nên bao gồm sách, video và các hoạt động tương tác để học sinh có thể học hỏi một cách thú vị và hiệu quả. Việc này giúp các em dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về an toàn tình dục.

3.2. Tổ Chức Các Buổi Hội Thảo

Các buổi hội thảo về sức khỏe sinh sản và an toàn tình dục có thể giúp học sinh có cơ hội thảo luận và đặt câu hỏi. Điều này tạo ra một môi trường thoải mái để các em chia sẻ và học hỏi từ nhau.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu cho thấy rằng việc can thiệp giáo dục an toàn tình dục có thể làm tăng đáng kể kiến thức và thái độ của học sinh về vấn đề này. Các chương trình giáo dục đã được triển khai tại Sa Đéc cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức của học sinh.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Sa Đéc

Nghiên cứu cho thấy sau khi tham gia các chương trình giáo dục, tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng về biện pháp tránh thaibệnh lây truyền qua đường tình dục đã tăng lên rõ rệt.

4.2. Ứng Dụng Các Phương Pháp Giáo Dục

Các phương pháp giáo dục hiệu quả đã được áp dụng, bao gồm việc sử dụng các tình huống thực tế và các bài học tương tác, giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và áp dụng kiến thức vào thực tế.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Giáo Dục An Toàn Tình Dục

Giáo dục an toàn tình dục cho học sinh trung học tại Sa Đéc cần được chú trọng hơn nữa. Việc nâng cao kiến thức tình dụcthái độ về tình dục không chỉ giúp học sinh bảo vệ sức khỏe bản thân mà còn góp phần xây dựng một xã hội khỏe mạnh hơn. Tương lai của giáo dục an toàn tình dục phụ thuộc vào sự hợp tác giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục An Toàn Tình Dục

Giáo dục an toàn tình dục là một phần không thể thiếu trong chương trình học, giúp học sinh có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống. Cần có sự đầu tư và quan tâm đúng mức từ các cấp quản lý giáo dục.

5.2. Hướng Tới Một Tương Lai Khỏe Mạnh

Tương lai của giáo dục an toàn tình dục tại Sa Đéc cần được xây dựng trên nền tảng kiến thức vững chắc và thái độ tích cực từ cả học sinh và giáo viên. Điều này sẽ giúp giảm thiểu các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản trong cộng đồng.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong ba quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất trên thế giới, sau Trung Quốc và Nga. Trong đó, vị thành niên và thanh niên mang thai chiếm 20%. Mặt khác, vị thành niên (VTN) là giai đoạn phát triển đặc biệt, xảy ra đồng thời hàng loạt những biến đổi về tâm sinh lý, về các mối quan hệ xã hội, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người trưởng thành. Do trẻ vị thành niên ngày càng dậy thì sớm, tò mò, thích khám phá năng lực bản thân, năng động, sáng tạo, sự tràn lan của phim đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

Trong khi đó, trẻ rất ít tiếp cận thông tin đúng đắn về sức khỏe sinh sản (SKSS) và tình dục an toàn phù hợp với giai đoạn phát triển, đồng thời liên tục đối mặt với nguy cơ trong cuộc sống do tuổi mới lớn gây ra [113] dẫn đến những hậu quả xấu đối với SKSS của trẻ như mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, có thai ngoài ý muốn…. So sánh điều tra quốc gia về sức khoẻ sinh sản vị thành niên-thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2003 và năm 2009, ghi nhận: vị thành niên từ 14-17 có quan hệ tình dục tăng từ 1,1% lên 2,2% đối với nam, và 0,2% lên 0,5% đối với nữ. VTN thường xấu hổ khi nhắc hoặc mua, mang bao cao su bên mình [41, 54] Tỷ lệ mắc bệnh lây truyền qua tình dục, phá thai, mang thai ngoài ý muốn trên đối tượng vị thành niên đã đáng lo ngại, nhất là trên đối tượng vị thành niên có học vấn thấp, không được gia đình quan tâm, không đi học, học dang dở, sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số. Nguyên nhân chủ yếu do trẻ không tiếp cận được với truyền thông giáo dục sức khỏe.

Hiện nay vấn đề giáo dục giới tính đã được quan tâm trên thế giới và đã được đưa vào chương trình giáo dục giới tính ở học đường. Tuy nhiên, tại Việt Nam việc giảng dạy còn nhiều hạn chế vì các thầy cô phụ trách còn ngần ngại khi nói đến vấn đề tình dục. Tình dục vị thành niên là chủ đề nhạy cảm với lứa tuổi các em mà người lớn lại muốn né tránh khi đề cập đến. Các em biết yêu rất sớm trong khi kiến thức về tình dục an toàn còn khá khiêm tốn.

Sa Đéc là thành phố thứ 2 của tỉnh Đồng Tháp, được thành lập năm 2013. Chỉ khoảng 214 ngàn dân, có 3 trường phổ thông trung học (PTTH) công lập, ngoài ra còn có các trường nghề, bán công PTTH. Mỗi năm, trường PTTH phải mời cán bộ y. tế phường, phối hợp trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản thành phố Sa Đéc đến từng trường, có trả kinh phí.

Sinh hoạt tập trung tại giảng đường, với chủ đề vị thành niên và các tệ nạn nghĩa vụ ở tuổi các em. Buổi học không bắt buộc, nhưng khuyến khích các em tham gia. Tuy nhiên, vẫn không đáp ứng nhu cầu mong muốn của nhà trường và các em. Do nhu cầu các em học sinh, và thầy cô, cũng như ban giám hiệu, là đồng bộ, khá lớn, và rất mong mỏi, nên khi chúng tôi gợi ý về chương trình giảng dạy về an toàn tình dục và sức khoẻ sinh sản cho đối tượng vị thành niên học sinh PTTH công lập đã được sự ủng hộ rất nhiệt liệt ở các trường PTTH công lập.

Mặt khác, tỉnh Đồng tháp nói chung và thành phố Sa Đéc nói riêng, vẫn chưa có nghiên cứu thống kê về can thiệp giáo dục sức khoẻ sinh sản, an toàn tình dục trên đối tượng là VTN nhất là học sinh PTTH. Vì vậy, với nghiên cứu “Sự thay đổi kiến thức-thái độ sau can thiệp giáo dục an toàn tình dục của học sinh PTTH tại thành phố Sa Đéc” là một chương trình can thiệp không những đáp ứng cho một sự khát kháo kiến thức, đáp ứng mong muốn chung của thầy cô, học sinh mà còn cho thấy tỷ lệ thay đối sau giảng dạy về sức khoẻ sinh sản về kiến thức và thái độ của các em học sinh PTTH để tìm hiệu quả của truyền thông, giáo dục sức khoẻ sinh sản đối với lứa tuổi học sinh. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT: Sự thay đổi kiến thức-thái độ của học sinh phổ thông trung học sau can thiệp giáo dục an toàn tình dục tại thành phố Sa Đéc. MỤC TIÊU CỤ THỂ 1.

So sánh tỷ lệ kiến thức đúng trước và sau can thiệp giáo dục an toàn tình dục của học sinh PTTH tại thành phố Sa Đéc. So sánh tỷ lệ thái độ đúng trước và sau can thiệp giáo dục an toàn tình dục của học sinh PTTH tại thành phố Sa Đéc. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm về sức khỏe sinh sản (SKSS) vị thành niên : Vị thành niên (VTN): Năm 1998, Tổ chức y tế thế giới (WHO), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) đã thống nhất: vị thành niên là tuổi 10-19 [113].

Dậy thì: là giai đoạn đặc biệt từ 9-16 tuổi, có thể kéo dài 3 - 4 năm. Dấu hiệu dậy thì của nam là xuất tinh lần đầu gọi là mộng tinh. Dấu hiệu dậy thì của nữ biểu hiện có kinh nguyệt lần đầu. Dấu hiệu này có ý nghĩa là cơ quan sinh dục đã bắt đầu trưởng thành, có thể tham gia vào quá trình sinh sản.

[9, 97] Tình dục: Tình dục bao gồm quan hệ thể xác, ân ái tình cảm. Sức khỏe sinh sản: Theo Tổ chức y tế thế giới, sức khỏe sinh sản được định nghĩa là trạng thái khỏe mạnh về thể chất và tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các gian đoạn của cuộc đời [53]. Tại Việt Nam, vị thành niên là đối tượng được ưu tiên trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản vì đây là những đối tượng dễ tổn thương nhất. Đây chính là mục tiêu của các hoạt động truyền thông, giáo dục về chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam [105].

Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản cho tuổi vị thành niên chủ yếu bao gồm:  Hiểu biết các biện pháp tránh thai (BPTT).  Bệnh lây truyền qua đường tình dục (QHTD).  Hành vi tình dục an toàn. Sức khỏe tình dục: Là trạng thái thoải mái về thể chất, tình cảm, tinh thần, và xã hội liên quan với hoạt động tình dục và không chỉ đơn thuần là không có bệnh, rối loạn chức năng hay thương tật [108].

Sức khỏe tình dục chịu tác động của kinh tế, văn hóa, chính sách, hỗ trợ bởi cá nhân, gia đình, cộng đồng sinh sống. Sức khỏe tình dục cần được tôn trọng, bảo vệ. Cần cung cấp kiến thức, kỹ năng để họ tự đưa ra các quyết định về đời sống tình dục, về cách sống của cá nhân họ. [104, 108] Tình dục an toàn: Là quan hệ tình dục giúp hạn chế khả năng mang thai ngoài ý muốn và phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục gồm HIV/AIDS.

Lựa chọn này, nhằm đem lại sự thỏai mái, bảo vệ sức khỏe bản thân và bạn tình. sống tình dục kiêng khem, lành mạnh, tôn trọng việc chung thủy với một bạn tình, sử dụng bao cao su (BCS) để tránh bị lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, tránh thai an toàn, hiệu quả, bơm kim tiêm riêng. Đi khám y tế ngay khi nghi ngờ bị nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc mang thai. Hành vi tình dục: Là hành vi tìm kiếm khoái cảm bằng cách tự kích thích hoặc khoái cảm từ bạn tình.

Hành vi này bao gồm giao hợp giữa nam và nữ, hoặc vuốt ve, âu yếm, ôm hôn… có thể bằng tay, hay bằng miệng, hoặc tại cơ quan sinh dục hoặc bộ phận khác của cơ thể. Hành vi tình dục gọi là lành mạnh tự nguyện, đồng thuận, có hiểu biết, có trách nhiệm, tôn trọng lẫn nhau, đồng thời phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa truyền thống gia đình, xã hội. Tần suất quan hệ tình dục: Là những vấn đề tác động làm ảnh hưởng đến sức khỏe tình dục [88, 116] có liên quan đến lần đầu tiên quan hệ tình dục, số bạn tình có quan hệ, mức độ thường xuyên quan hệ tình dục, tỷ lệ dùng bao cao su, tỷ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nạo phá thai: Là biện pháp đình chỉ thai, có thể bằng thuốc hay các kỹ thuật y tế khác, tùy vào tuổi thai, sức khỏe, kinh nghiệm, phương tiện… Mục đích là lấy túi thai ra khỏi lòng tử cung [49].

Bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục: Là các bệnh lây nhiễm, lây truyền do quan hệ tình dục, gọi chung là bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs), gồm nhiều bệnh, mà thường gặp là lậu, giang mai, nấm, trùng roi, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, HIV/AIDS [47, 50] Kiến thức, thái độ về hành vi an toàn tình dục: Là cách nhìn nhận, hiểu biết đúng về quan hệ tình dục, mang thai, biện pháp tránh thai, nạo phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Thái độ là biểu hiện ra ngoài của ý nghĩ như nét mặt, cử chỉ, bằng đúng sai, đồng ý, không đồng ý về quan hệ tình dục trước hôn nhân, dùng bao cao su, phá thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục [30, 48]. Thay đổi tâm - sinh lý VTN: Tuổi VTN gồm 3 giai đoạn:  VTN sớm: từ 10 -13 tuổi.  VTN trung bình: từ 14 - 16 tuổi.

 VTN muộn: từ 17 - 19 tuổi. Thay đổi sinh lý vị thành niên: Dậy thì biểu hiện bằng sự thay đổi của toàn bộ của cơ thể, rõ nhất là ở cơ quan sinh dục, để chuẩn bị sẵn sàng cho hoạt động tình dục và sinh sản. Dậy thì nữ thường sớm hơn nam khoảng 1-2 năm. Nội tiết sinh dục tăng dần từ tuổi dậy thì đến khi trưởng thành.

Dậy thì sẽ gây ra hàng loạt thay đổi đặc tính sinh dục chính và phụ. Dậy thì nữ đánh dấu bằng kinh nguyệt lần đầu, dậy thì nam là xuất tinh lần đầu, gọi là mộng tinh. Dậy thì ở nam gồm các dấu hiệu như: tinh hoàn bắt đầu to ra, kéo theo sự phát triển về kích thước của dương vật, lông mu, ria mép. Tuyến bã hoạt động mạnh, mụn trứng cá xuất hiện.

Cơ thể cao lên nhanh chóng, các xương dài phát triển, bàn chân, bàn tay to lên, dài ra, khuỷu tay, đầu gối to lên đáng kể. Thanh quản mở rộng, vỡ tiếng. Tiếp đó là sự phát triển các cơ bắp ở ngực, vai, đùi. Các em bắt đầu có hình dáng đặc trưng của nam giới.

Dậy thì ở trẻ trai được đánh dấu bằng xuất tinh lần đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ