Chương 1: Giới thiệu Đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 3: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý; Chương 4: Thực trạng kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý tại Kiểm toán Nhà nước hiện nay; Chương 5: Hoàn thiện kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện. 13 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Tôn Hiểu Nham (2005) với công trình nghiên cứu “Kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý Nhà nước” đã chỉ ra KTTNKT của cán bộ quản lý tại các đơn vị Nhà nước là quan trọng vì các đơn vị công là những đơn vị sử dụng NSNN nên việc xảy ra hiện tượng tiêu cực là dễ thấy. Do đó khi kiểm toán, KTNN phải kiểm toán TNKT đối với cán bộ quản lý.
Ông nêu ra rằng kiểm toán TNKT phải kiểm toán được tình trạng tham ô, lãng phí và tình trạng tha hóa đạo đức của những cán bộ quản lý trong các tổ chức công. ZhangQi (2004) với công trình nghiên cứu "Chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước Trung Quốc", chỉ ra rằng hệ thống chuẩn mực KTNN Trung Quốc có quy định cụ thể quyền kiểm tra, xử lý xử phạt của KTNN đối với các hành vi gian lận, phạm pháp nghiêm trọng. KTNNN phải có thẩm quyền tiến hành xử lý xử phạt đối với hành vi gian lận, phạm pháp nghiêm trọng và có biện pháp trong việc tìm kiếm manh mối hành vi gian lận, phạm pháp nghiêm trọng. KTTNKT là nghiệp vụ chuyên môn để đối chiếu với với các mục tiêu liên quan, đưa ra đánh giá xem xét liệu những công chức đặc biệt có hành thành đúng chức trách, nghĩa vụ của mình không, đồng thời xác định rõ gianh giới trách nhiệm của cán bộ, viên chức trong những vấn đề do KTNN phát hiện (Đoàn học tập kinh nghiệm kiểm toán tại KTNN Trung Quốc, 2005).
Crawbath (2001), trong công trình nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm toán cán bộ quản lý” xác định rằng kiểm toán cán bộ quản lý là một nhiệm vụ khó thực hiện với lý do các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm toán đặc biệt là trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý như: Nhân tố kinh tế, xã hội, đối tượng kiểm toán làm cho kết quả KTTNKT của cán bộ quản lý trở nên ít chính xác vì nó tác động lớn đến các cán bộ kiểm toán làm cho KTV dễ nhận định sai. Smarth Jhon (2000), “Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý trong các tổ chức công”, trong công trình nghiên cứu của mình tác giả chỉ ra rằng tại các 14 nước xã hội chủ nghĩa, hiện tượng cán bộ quản lý để xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm trong quản lý là xuất phát từ hiện tượng tư lợi cá nhân và lợi ích riêng nên dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực làm cho hậu quả là các tổ chức kém phát triển gây lãng phí và thất thoát cho nhà nước làm ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của đất nước do đó phải tăng cường công tác thanh kiểm tra các đơn vị khu vực công nhằm mục đích minh bạch tài chính, giảm thất thoát tiền, tài sản nhà nước. Nath (2005) chỉ ra có 8 nhân tố được phân loại thành nhóm nhân tố kinh tế, chính trị và xã hội có ảnh hưởng tới việc hình thành kiểm toán trong các tổ chức công gồm: Vai trò Tổng KTNN; yêu cầu từ các cấp chính quyền; chính sách tài khóa; áp lực từ các nhóm lợi ích (chính trị gia, phương tiện truyền thông.); vai trò của các ủy ban trong quốc hội; thay đổi luật và quy định; tác động của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán; thay đổi cơ cấu tổ chức của SAI. Trong số 8 nhân tố trên, có 3 nhân tố (gồm ủy ban kế toán công, quốc hội và phương tiện truyền thông) đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển Kiểm toán, các nhân tố này có ảnh hưởng làm tăng cầu về Kiểm toán.
Pollit và Cộng sự (1997, 1999) đưa ra quan điểm chức năng kiểm toán trong các tổ chức công không chỉ đơn giản là áp dụng những kỹ thuật kiểm toán phù hợp mà còn bao hàm khía cạnh quản lý được áp dụng trong mô hình quản trị công mới. Pollit cho rằng thay đổi trên phương diện kỹ thuật kiểm toán trong các tổ chức công quyết định loại hình kiểm toán và tiến trình phát triển, nhưng những thay đổi kỹ thuật kiểm toán chỉ xuất hiện cùng với những thay đổi trong cải cách quản trị công. Trên bằng chứng thực nghiệm khảo sát tại 05 quốc gia khác nhau bao gồm Phần Lan, Pháp, Hà Lan, Thủy Điển và Anh (thông qua nghiên cứu tình huống), Pollitt & cộng sự (1999) đã đưa ra mô hình đầu ra, đầu vào (mô hình logic) để thiết lập mô hình các nhân tố tác động đến hoạt động kiểm toán. Khung phân tích mô hình đầu vào, đầu ra Pollit và Cộng sự (1997, 1999) nhấn mạnh đến các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược kiểm toán là: các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội; khả năng các SAI (trình độ, kỹ năng KTV và khả năng thực hiện nhiệm vụ của các SAI); đặc điểm của đối tượng được kiểm toán; quan điểm xây dựng và phát triển kiểm toán của các SAI.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải thực hiện KTTNKT của cán bộ quản lý đối với lĩnh vực công nhằm mục tiêu phòng chống tham nhũng, minh bạch tài chính công; các công trình đã tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng công tác kiểm toán và đã chỉ ra được một số nhóm nhân tố ảnh hưởng chất lượng công tác kiểm toán: như yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội; yếu tố về đặc thù của đơn vị được kiểm toán; yếu tố về năng lực của các SAI… 2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam GS.TS Vương Đình Huệ (2003, 2012) Đề tài khoa học cấp bộ đã đưa ra lý luận chung ban đầu về KTTNKT và có xây dựng sơ bộ quy trình KTTNKT đối với cán bộ quản lý. Đề tài đã đưa ra được cơ sở lý luận cùng mô hình KTTNKT đối với cán bộ quản lý và có đưa ra lộ trình từ 2003 đến 2010 đưa hoạt động KTTNKT vào nền nếp. Đây là Đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về KTTNKT tại Việt Nam, đặt nền móng về khái niệm, đặc trưng, xây dựng cơ sở lý luận, quy trình KTTNKT đối với cán bộ quản lý.
Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (2007), Tạp chí Kiểm toán (KTNN Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Tạp chí Kiểm toán, Số 9 (82) - tháng 9/2007 (tr6 - 8)), đã có quan điểm cần 16 phải KTTNKT đối với cán bộ được đề bạt, mãn nhiệm kỳ nhằm chống tham nhũng, lãng phí NS, tài sản nhà nước. Có thể nói đây là tuyên bố bước đầu cho quyết tâm đặt nền móng KTTNKT của một thành viên của Bộ Chính trị. Tiếp đến, ngày 18/07/2009, tại cuộc họp giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và KTNN bàn về Đề án Chiến lược Phát triển KTNN đến 2015 và tầm nhìn 2020 có đặt ra mục tiêu sẽ nghiên cứu ban hành cơ sở pháp lý thực hiện KTTNKT trước khi bổ nhiệm và mãn nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo. Nguyễn Đình Hựu (2015) KTTNKT và vai trò của cơ quan KTNN đối với phòng, chống tham nhũng ngày 22/7/2015 tại KTNN Việt Nam, có nhiều bài tham luận của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý của KTNN Việt Nam; KTNN Trung Quốc.
Các bài phát biểu của các CNAO đã giới thiệu cụ thể về khái niệm KTTNKT đối với cán bộ quản lý, đặc trưng, vai trò, lịch sử hình thành, phát triển của KTTNKT; những bài học kinh nghiệm của CNAO đối với việc xây dựng, phát triển KTTNKT đối với cán bộ quản lý. Phạm Tiến Dũng (2016) Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Số 477 - tháng 9/2016 (tr35 - 37) đã có bài viết nghiên cứu về KTTNKT của cán bộ quản lý, đưa ra khái niệm, đặc trưng của KTTNKT của cán bộ quản lý. Phạm Tiến Dũng (2016) Tạp chí Tài chính - tháng 9/2016 (tr23-25) đã có bài viết nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTTNKT tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp để triển khai KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện. Phạm Tiến Dũng (2016) Tạp chí Kinh tế và Dự báo và Tạp chí nghiên cứu Khoa học Kiểm toán (tháng 10/2016) đã có bài viết về kinh nghiệm của Trung Quốc đối với KTTNKT với cán bộ quản lý.
Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2017) trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo (tháng 02/2017) đã có bài viết về các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện. Trong bài viết đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của KTTNKT là đặc thù của các tổ chức công, năng lực kiểm toán, khả năng KTTNKT của KTNN, yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội. Đặng Thị Hoàng Liên (2013) đã có bài viết nghiên cứu về địa vị pháp lý của KTNN Trung Quốc, những loại hình kiểm toán của KTNN Trung Quốc, những thay đổi trong hoạt động KTNN của Trung Quốc từ khi gia nhập WTO và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Đề tài cũng nêu những nét tương đồng về thể chế, các bài học kinh nghiệm của CNAO để Việt Nam học tập, trong đó có đề cập đến loại hình 17 KTTNKT là hoạt động kiểm toán cần thiết trong việc thay đổi hoạt động từ khi gia nhập WTO với mục tiêu minh bạch hóa nền tài chính công.
Nguyễn Đình Hựu (2002), Nghiên cứu về vị trí, chức năng và phương thức hoạt động của Tòa Kiểm toán Pháp trong đó đặc biệt nhất mạnh đến hình thức kiểm toán tài phán. Tòa Kiểm toán được thành lập dưới hình thức một tòa án tư pháp, có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm kinh tế của các nhân viên kế toán công trong trường hợp có vi phạm và có quy chế thẩm phán xét xử và có quyền tài phán. Phạm Anh Tuấn (2014) Tạp chí Kiểm toán, Số Xuân - tháng 1/2014 (tr10 - 11) có để xuất tăng cường chức năng khởi tố vụ án cho KTNN Việt Nam để tăng cường công tác phòng chống tham nhũng vì các hành vi tham nhũng ngày càng phức tạp, tinh vi, thô bạo với quy mô lớn, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành.