CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT TRONG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Cơ sở lý luận chung về kiểm soát trong quản lý 1.1 Khái niệm về quản lý, kiểm soát trong quản lý Kiểm soát hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân là một trong những hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, không chỉ lĩnh vực thuế mới cần đến hoạt động kiểm soát mà trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, bên trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội đều phải thực hiện tiến trình kiểm soát. Để hiểu được kiểm soát trong quản lý Thuế TNCN, chúng ta cần tìm hiểu về kiểm soát trong quản lý là gì và trong đó hoạt động quản lý nói chung và quản lý của Nhà nước nói riêng được hiểu như thế nào.1 Khái niệm về quản lý Mỗi hoạt động của bất kỳ tổ chức nào trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều cần thiết phải quản lý, sự cần thiết trên xuất phát từ yêu cầu đối với quản lý trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức. Khi nói đến quản lý sẽ gợi cho nhiều người có cách nghĩ khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau.Gibson và John M.Ivancevich trong giáo trình Quản trị học căn bản cho rằng “Quản lý là một quá trình do một hoặc nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của người khác để đạt được những kết quả mà một người hoạt động riêng lẽ không thể nào đạt được”3.
Dù đứng trên một phương diện nào thì quản lý cũng phải là một quá trình công việc bao gồm việc hướng dẫn một nhóm hoặc một tổ chức hoạt động nhằm hoàn thành mục tiêu xác định. Quản lý không chỉ đảm bảo cho mọi hoạt động của tổ chức được tiến hành với hiệu quả cao nhất mà còn đảm bảo cho các đối tượng theo mục tiêu đề ra, theo chức năng được quy định và nhiệm vụ được giao. Nói một cách tổng quát, quản lý là hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau 3 JamesH.Gibson và John M.Ivancevich (2001), quản trị học cản bản, nhà xuất bản thống kê. Luan van 5 trong các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
Và theo tác giả, định nghĩa về quản lý trong Quản lý Nhà nước về kinh tế đầy đủ ý nghĩa và nội dung: “Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã xác định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất”.2 Khái niệm về kiểm soát và kiểm soát trong quản lý Quá trình quản lý bao gồm nhiều chức năng và có thể chia làm nhiều gia đoạn như lập kế hoạch, tổ chức, kiểm soát, đánh giá … trong đó, chức năng kiểm soát là chức năng quan trọng được thể hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Chẳng hạn ở giai đoạn định hướng cần có các dự báo về nguồn lực và xây dựng các mục tiêu nên cần kiểm soát các thông tin về nguồn lực mới xây dựng được chương trình, kế hoạch sát thực; Trong giai đoạn tổ chức thực hiện cần kết hợp với các nguồn lực theo phương án tối ưu nên cũng cần kiểm soát diễn biến, kết qủa quá trình để điều hoà mối quan hệ, điều chỉnh các mục tiêu để đạt hiệu quả cao; trong kết quả đánh giá thực hiện, cần soát xét, thẩm định các thông tin để có kết luận sát thực với thực tiến hoạt động. Như vậy trong quá trình quản lý, để đảm bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi cá nhân, mỗi bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức, đơn vị cơ sở đều được kiểm tra và tự kiểm tra mọi hoạt động của mình nhằm xem xét quá trình thực hiện có đúng mục tiêu và yêu cầu hay không trong tất cả các khâu. Đó là việc rà soát các tiềm năng, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định mức, đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp, soát xét lại các thông tin thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm bảo đảm hiệu năng của các nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động.
Công việc kiểm tra này được gọi là kiểm soát. Theo tài liệu B.S Dhillon, Enghinering management, Technomic Publishing, Inc (1987) kiểm soát bao gồm các hoạt động quá trình thực hiện, so sánh với các tiêu chuẩn và chọn ra cách thức đúng. Bản chất cơ bản của kiểm soát được thể hiện rõ trong tất cả các giai đoạn của toàn bộ quá trình quản lý, đó là việc xem xét để đánh giá kết quả hoạt động, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động Luan van 6 so với mục tiêu kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu này, định mực hay định hướng cho các hoạt động. Nói một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm bắt và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý.
Với ý nghĩa đó, kiểm soát có thể hiểu theo nhiều chiều, cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc biện pháp cụ thể, đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua chi phối đáng kể về quyến sở hữu hoặc lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và thủ tục quản lý. Qua đó, kiểm soát trong quản lý được hiểu là việc thực hiện đối chiếu kết quả đạt được với những quy phạm, quy định chung, với kế hoạch để đánh giá, điều chỉnh lại cho quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn nhằm đạt được mục tiêu định trước. Việc kiểm soát nói chung và kiểm soát hoạt động quản ly thu ngân sách nhà nước (NSNN) nói riêng là rất cần thiết và vô cùng quan trọng trong quản lý nhà nước. Trong việc kiểm soát quản lý thu NSNN, các tiêu chuẩn kiểm soát là hệ thống các Luật và các quy định dưới luật và việc kiểm soát hoạt động quản lý thu NSNN chủ yếu được thực hiện thông qua cơ quan thuế.2 Vị trí của kiểm soát trong quản lý Trong hoạt động của một đơn vị nói riêng hay hoạt động của Nhà nước nói chung, kiểm soát được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi ngành, mọi cá nhân.
Mặc dù, quy mô và kỹ thuật kiểm soát phụ thuộc vào từng hoạt động, từng con người cụ thể, song các hoạt động này đều có quan hệ hữu cơ với nhau và hỗ trợ qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau đạt được mục đích đã đề ra. Trong nền kinh tế, Nhà nước có chức năng tạo lập và đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định, hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ chức sắp xếp lại các đơn vị kinh tế và hệ thống quản lý, định hướng sự phát triển của nền kinh tế thông qua điều tiết vĩ mô. Với những chức năng đó, đối tượng quản lý rất rộng, từ các doanh nghiệp cho đến các ngành, các lĩnh vực khác nhau và trên nguyên tắc tất cả các hoạt động kinh tế, văn Luan van 7 hoá, xã hội … đều thuộc đối tượng quản lý của Nhà nước. Với cương vị quản lý vĩ mô, Nhà nước cũng thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra của mình nhằm khái quát toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, thiết lập các trật tự kỹ cương, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện các chương trình mục tiêu đã đề ra.
Mặt khác, Nhà nước là một tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của gia cấp thống trị, thi hành các chính sách do gia cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội. Nhằm duy trì sự hoạt động của mình, Nhà nước cần có chi tiêu chung có tính chất xã hội. Vì thế, Nhà nước phải duy trì quyền lực chính trị vốn có để để giành lấy một bộ phận của cải xã hội phục vụ cho các chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là lý do tồn tại nguồn thu NSNN.
Do vậy, vấn đề quản lý là thực sự cần thiết và quá trình kiểm soát nguồn thu là hết sức quan trọng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình quản lý từ các cấp, các lĩnh vực nguồn thu … nhằm thiết lập, rà soát và kiểm tra toàn bộ hoạt động quản lý của Nhà nước. Như vậy, kiểm soát không phải là một giai đoạn của quá trình quản lý mà là một chức năng gắn với mọi hoạt động của quản lý ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Vị trí của kiểm soát xuyên suốt trong tiến trình quản lý nhằm xem xét để đánh giá kết quả hoạt động, đo lường các sai lệch này sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu, các định mức hay định hướng cho các hoạt động. Còn, kiểm tra, thanh tra thuế là là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế – xã hội.2 Những vấn đề cơ bản về Thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế thu nhập cá nhân 1.1 Khái niệm về thuế và thuế thu nhập cá nhân 1.1 Khái niệm về thuế Luan van 8 Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử.
Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Theo Mác-Ăng Ghen thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của nhà nước”4 hay thuế “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước, đó là thuế”5. Đối với nước ta, hiện nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế.