CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài Học tập suốt đời hiện nay được nhiều nước phát triển trên thế giới quan tâm và theo đuổi. Tại Anh, việc thúc đẩy học tập suốt đời đã được xem là một giải pháp tiến tới một nền kinh tế vững mạnh và một xã hội hiện đại. Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng cùng việc hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay thì việc học tập suốt đời lại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bởi chỉ có học tập suốt đời thì mỗi cá nhân mới theo kịp những yêu cầu của xã hội trong một môi trường không ngừng biến đổi.
Vì thế, học tập suốt đời trở thành xu hướng của mọi nền giáo dục trên thế giới, với ý nghĩa đưa giáo dục vào cả đời người, biến việc học thành quá trình không ngừng tự nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học. Định hướng cải cách giáo dục này cũng đã được Việt Nam quan tâm thông qua việc mở rộng các hình thức đào tạo phi học thuật (Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Thị Hải Yến, 2012) hay việc Bộ Giáo dục và Đào tạo hàng năm tổ chức “Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời” nhằm khẳng định vấn đề học tập suốt đời là một xu thế phát triển tất yếu đối với giáo dục của Việt Nam. Khái niệm học tập suốt đời xuất hiện từ thập niên 1960 và đến nay nó liên tục được phát triển tương thích với biến đổi của xã hội trong từng giai đoạn như trong các mô tả về học tập suốt đời của UNESCO (1972); Evvers, Rush và Berdrow (1989); tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (2005); Liên Minh Châu Âu (2007) hay Collins (2009). Tuy nhiên, trong các mô tả về khái niệm này, một thành tố quan trọng luôn được đề cập là hoạt động tự học.
“Phát triển năng lực tự học là một yếu tố đi đầu và quan trọng nhất vì đây là yếu tố thúc đẩy sự thành công của các năng lực còn lại và học tập suốt đời” (Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Thị Hải Yến, 2012). Tự học chính là quá trình tự tìm hiểu và tích lũy kiến thức và kinh nghiệm từ thế giới xung quanh nhằm nâng cao hiểu biết (Nguyễn Thanh Thủy, 2006). Vì thế, tự học chính là tiền đề cơ bản để việc học tập suốt đời diễn ra. Trong bối cảnh giáo dục hiện tại, cũng như các trường đại học khác, trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (IUH) đã đổi mới và áp dụng hệ thống đào tạo tín chỉ cho sinh viên hệ đại học.
Hình thức đào tạo tiên tiến này lấy người học làm trung tâm; sinh viên phải chủ động tham gia vào trong quá trình tự học và có ý thức độc lập trong quá trình hình thành kiến thức cho chính mình. Có thể nói, tự học là chìa khóa cho sự thành công 1 không chỉ đối với sinh viên mà còn đối với việc đổi mới phương phức đào tạo theo tín chỉ hiện nay (Nguyễn Thanh Thủy, 2016). Tuy nhiên, kết quả của một khảo sát nhanh do nhóm nghiên cứu thực hiện tại IUH vào tháng 2/2020 với sự tham gia của 231 sinh viên năm 1 và năm 2 đã cho thấy mặc dù tất cả sinh viên đều biết tự học là một nhiệm vụ chính yếu khi học đại học, nhưng có 47,4 % sinh viên được hỏi đã không biết cách tự học hiệu quả và có đến 95,2 % các em trả lời muốn được phát triển khả năng tự học một cách hiệu quả hơn. Kết quả này cho thấy còn rất nhiều sinh viên chưa đáp ứng tốt năng lực tự học.
Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập tại trường cũng như năng lực học tập suốt đời sau này của các em. Việc này cũng đặt ra những thách thức không chỉ cho các chương trình đào tạo (CTĐT) đang chuẩn bị kiểm định chất lượng trong thời gian tới mà còn đối với chất lương đào tạo nói chung của nhà trường trong xu thế hội nhập quốc tế mà trong chính sách chất lượng của nhà trường đã nêu. Xuất phát từ thực tiễn nói trên, việc tìm ra một thang đo đánh giá chính xác hoạt động tự học và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt này cho sinh viên IUH là cần thiết. Có nhiều thang đo đã được thiết kế để đánh giá hoạt động tự học như thang đo của Guglielmino (1977), Oddi & cộng sự (1990), Fisher & cộng sự (2001), Williamson (2007), Cadorin & cộng sự (2013).
Mặc dù vậy, việc nhận xét, đánh giá để chọn ra một thang đo đáng tin cậy và đánh giá đúng về hoạt động tự học vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức được thực trong nước nói chung và tại IUH nói riêng. Do đó, nghiên cứu này có thể coi là nghiên cứu đầu tiên có sử dụng thang đo đánh giá hoạt động tự học đã được kiểm định trong việc đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tự học – một thành tố quan trọng của việc học tập suốt đời cho sinh viên IUH.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Đề tài này được thực hiện nhằm đưa ra các hàm ý quản trị và kiến nghị giải pháp nâng cao năng lực tự học của sinh viên trường ĐHCNTPHCM, là tiền đề cho việc hình thành và phát triển năng lực học tập suốt đời của sinh viên trong xu thế hội nhập quốc tế. 2 Mục tiêu cụ thể Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nói trên, người thực hiện đưa ra ba mục tiêu cụ thể như sau: - Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của sinh viên trường ĐHCNTPHCM; - Đo lường mức độ ảnh hưởng những nhân tố nói trên đến năng lực tự học của sinh viên trường ĐHCNTPHCM; - Đề xuất các hàm ý quản trị và kiến nghị giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học của sinh viên trường ĐHCNTPHCM. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nhận thấy một đề tài đi theo hướng ứng dụng sẽ có giá trị và thiết thực hơn đối với IUH.
Vì vậy, từ mục tiêu nghiên cứu mang tính học thuật nói trên nhóm đã trình bày lại thành mục tiêu mang tính ứng dụng, trong đó, mục tiêu nghiên cứu cuối cùng vẫn không thay đổi đó là đề xuất được các giải pháp nhằm gia tăng hoạt động tự học cùa sinh viên trường IUH. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể được phát biểu theo hướng ứng dụng như sau : Đề tài này được thực hiện nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hoạt động tự học của sinh viên IUH – là một tiền đề quan trọng cho việc hình thành và phát triển năng lực học tập suốt đời của sinh viên. Với mục tiêu tổng quát này, ba mục tiêu cụ thể theo hướng ứng dụng cùa ba mục tiêu cụ thể nói trên được diễn giải thành: i) Xác định thang đo phù hợp nhằm đo lường mức độ tự học của sinh viên IUH ; ii) Đánh giá thực trạng hoạt động tự học của sinh viên IUH ; iii) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tự học của sinh viên IUH.3 Đối tượng nghiên cứu Với mục đích và mục tiêu cụ thể nêu trên, đối tượng phân tích của đề tài này sẽ là hoạt động tự học của sinh viên IUH, do đó, đối tượng khảo sát của đề tài này là sinh viên đang học tập tại của trường.4 Phạm vi nghiên cứu Là một trường dẫn đầu của ngành Công Thương về chất lượng đào tạo và quy mô hoạt động, trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có quy mô đào tạo hiện tại khoảng 50.000 sinh viên, cung cấp nhân lực chủ yếu cho khu vực các tỉnh phía Nam. Ngoài cơ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh với lượng sinh viên trên 45.000 em, nhà 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, nhóm nghiên cứu tìm hiểu sự tương quan của khái niệm hoạt động tự học với khái niệm học tập suốt đời.
Ngoài ra, các nghiên cứu liên quan và các thang đo liên quan đến hoạt động tự học cũng được tìm hiểu. Dựa trên việc phân tích các thang đo này, nhóm nghiên cứu sẽ quyết định lựa chọn thang đo phù hợp để đánh giá hoạt động tự học của sinh viên IUH – là mục tiêu cụ thể thứ nhất của đề tài.1 Học tập suốt đời Khái niệm Học tập suốt đời (Lifelong learning – LLL) là một cụm từ thường xuất hiện trên các phương tiện truyền thông gần đây. Thực tế nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm, chú ý và theo đuổi học tập suốt đời từ những thập niên nửa sau của thế kỷ 20. Đặc biệt trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay thì việc học tập suốt đời lại đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết.
Bởi chỉ có như thế mỗi cá nhân mới theo kịp những yêu cầu lao động liên tục thay đổi trong một xã hội luôn biến động ngày nay. Do đó, học tập suốt đời trở thành là xu hướng của mọi nền giáo dục trên thế giới, với ý nghĩa đưa giáo dục vào cả đời người, biến việc học thành quá trình không ngừng tự nâng cao kiến thức, kỹ năng và thái độ. Tại các nước phát triển, nhiều bài viết và công trình nghiên cứu thể hiện LLL ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Chẳng hạn ở Anh, Bộ Giáo dục và việc làm xem việc thúc đẩy học tập suốt đời là giải pháp tiến tới một nền kinh tế vững mạnh và một xã hội hiện đại.
Đối với các quốc gia thuộc Cộng đồng Châu Âu (European Union – EU), trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, tỷ lệ gia tăng dân số lớn tuổi ngày càng cao, họ khẳng định cần có chiến lược giáo dục và đào tạo mới trên nền tảng giáo dục suốt đời. Định hướng cải cách giáo dục này cũng đã được thực hiện tại nhiều quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc. Tương tự, Việt Nam khẳng định vấn đề học tập suốt đời là một xu thế phát triển tất yếu cho các quốc gia trên thế giới và Bộ Giáo dục và Đào tạo hằng năm tổ chức “Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời” nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của việc học tập suốt đời. Cho đến nay, khái niệm học tập suốt đời đã trải qua nhiều thay đổi, diễn giải lại và áp dụng ở nhiều quốc gia và khu vực khác nhau.