Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng hóa Chương 3: Thực trạng hiệu quả kinh doanh xuất khẩu mặt hàng tóc nối sang thị trường EU của Công ty cổ phần Xuất Nhập khẩu ASA Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu mặt hàng tóc nối sang thị trường EU 20 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 2.1 Cơ sở lý thuyết về xuất khẩu 2.1 Khái niệm xuất khẩu Theo The Economic Times, “Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ của một quốc gia sang các quốc gia khác. Trong đó, hoạt động thương mại quốc tế bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu.” Đây là hoạt động có tổ chức, có sự giám sát quản lý của cấp nhà nước cả bên trong lẫn bên ngoài với mục đích thu lợi nhuận, tăng thu ngoại tệ, phát triển nền kinh tế quốc gia. Theo Khoản 1 – Điều 28, Bộ Luật Thương mại Việt Nam (2005): “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản rằng xuất khẩu là việc bán hàng hoá/ dịch vụ cho một quốc gia khác, trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán. Bản chất của xuất khẩu là mua bán hàng hóa, dịch vụ từ thị trường trong nước để tiêu thụ ở thị trường nước ngoài để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng nước ngoài hoặc với mục đích tái sản xuất để tìm kiếm lợi nhuận.
Vì vậy, xuất khẩu là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia.2 Đặc điểm của xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trong đó hàng hóa và dịch vụ được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, hoạt động xuất khẩu có những đặc điểm riêng biệt như sau: Đặc điểm thứ nhất: Thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh nội địa. Do khi lưu chuyển hàng hóa xuất khẩu sẽ phải trải qua các thủ tục phức tạp ở cả bên nước nhập và nước xuất, điều này sẽ khiến cho hàng hóa sẽ bị giữ lại trong 21 một khoảng thời gian cho đến khi hoàn thành xong các thủ tục. Ngoài ra, khoảng cách về địa lý cũng khiến cho việc lưu chuyển hàng hóa mất nhiều thời gian hơn.
Do vậy, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu, người ta xác định khi hàng hóa đã được luân chuyển một vòng tay hoặc đã thực hiện xong một thương vụ ngoại thương. Đặc điểm thứ hai: Đồng tiền thanh toán trong hoạt động xuất khẩu là ngoại tệ hay có nguồn gốc ngoại tệ đối với một hay cả hai bên ký kết hợp đồng. Trong xuất khẩu hàng hóa, có thể áp dụng được nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Thông thường, phương thức thanh toán chủ yếu là thanh toán bằng LC.
Khi có tranh chấp thì hai bên tự giải quyết hoặc đưa ra trọng tài thương mại quốc tế của một trong hai quốc gia đã được quy định cụ thể tại hợp đồng mua bán hàng hóa. Đặc điểm thứ ba: Thị trường của hoạt động xuất khẩu rộng lớn và khó kiểm soát. Có thể thấy hoạt động xuất khẩu thể hiện trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các thương nhân trong và ngoài nước, hai bên phải tuân thủ các hiệp định thương mại, điều ước quốc tế và luật pháp của hai nước/ nước thứ ba. Do vậy hoạt động này thường xuyên dễ bị chi phối bởi nhiều yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hóa, chính trị… của các quốc gia khác nhau.
Ví dụ, việc thanh toán phải thông qua đồng tiền ngoại tệ, hàng hoá xuất khẩu vận chuyển qua biên giới quốc gia sẽ di chuyển qua các khu vực hải quan đặc biệt thông qua thủ tục hải quan, phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế… Đặc điểm thứ tư: Xuất khẩu là hoạt động lưu thông hàng hóa, dịch vụ một cách phong phú và đa dạng giữa các quốc gia. Các hoạt động xuất khẩu sẽ có nhiều hình thức xuất khẩu đa dạng khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp, gia công, tại chỗ, buôn bán đối lưu hay tạm nhập… Không chỉ về hình thức xuất khẩu mà ngay cả hình thức vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, hình thức buôn bán và hình thức thanh toán cũng đa dạng. Ngoài ra, xuất khẩu hướng tới toàn cầu nên thị trường xuất khẩu khá rộng lớn, mỗi một thị trường đều có những chính trị, luật pháp, nhu cầu tiêu dùng hay văn hóa riêng. Để đáp ứng được nhu cầu của nhiều thị trường thì hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp cần phải linh hoạt và đa dạng.
22 Đặc điểm thứ năm: Hoạt động xuất khẩu hoạt động dựa trên việc trao đổi hàng hóa/ dịch vụ của các thương nhân tại hai quốc gia khác nhau. Do hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các thương nhân trong và ngoài nước nên chủ thể của hoạt động xuất khẩu là những tổ chức, cá nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại hai quốc gia khác nhau do xuất khẩu là việc bán hàng hoá/ dịch vụ cho một quốc gia khác.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu Vai trò xuất khẩu đối với nền kinh tế Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Nhìn chung, xuất khẩu có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế: Thứ nhất: Xuất khẩu đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước, tăng tích lũy ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Chính việc xuất khẩu đã tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Ngoài ra, xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán thặng dư là điều kiện để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái theo hướng có lợi cho xuất khẩu đi kèm với tạo điều kiện phát triển kinh tế. Thứ hai: Xuất khẩu giúp nền kinh tế toàn cầu phát triển. Khi sự lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia diễn ra xuyên suốt sẽ là động lực để thúc đẩy sản xuất của từng quốc gia phát triển. Càng nhiều quốc gia đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu, nền kinh tế toàn cầu cũng sẽ tăng trưởng tốt.
Thứ ba: Xuất khẩu xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Không chỉ giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, xuất khẩu còn tạo khả năng thị trường tiêu thụ cũng như cung cấp đầu vào cho sản xuất nhằm phát huy tối đa năng lực sản xuất trong nước phục vụ thị trường. 23 Thứ tư: Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển vì sản xuất là chuỗi hoạt động tính móc xích với nhau cho nên phát triển của ngành này sẽ kéo theo sự phát triển của ngành khác. Thứ năm: Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trưởng tiêu thụ, giúp cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển vì có nhiều thị trưởng, phân tán rủi ro do cạnh tranh.
Ngoài ra, xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăng năng suất. Thứ sáu: Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân. Từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa, nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Cụ thể, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân, làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Cuối cùng: Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của đất nước, xuất khẩu là hoạt động ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế, khi có hoạt động xuất khẩu thì các nước có quan hệ với nhau trên cơ sở các bên đều có lợi. Do vậy các quốc gia đều đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác tối đa lợi ích của hoạt động này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp. Cùng với sự bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu thủ xu hướng vươn ra thị trường quốc tế là một xu hướng tất yếu của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu là một trong những chiến lược để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bảnh trưởng, phát triển, mở rộng thị trưởng của mình. Thứ nhất, xuất khẩu mang đến doanh thu lớn cho doanh nghiệp.
Thị trường kinh doanh giờ đây không chỉ bó hẹp trong một nước mà đã được hội nhập hóa, mang 24 đến nguồn thu lớn hơn đổ về từ các quốc gia lân cận và cả những nơi cách xa hơn nửa vòng trái đất. Ngoài ngoại tệ thu về, xuất khẩu sẽ tạo động lực để doanh nghiệp không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng dịch vụ của chính mình và ngày càng phát triển. Thứ hai, thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước tăng khả năng cạnh tranh và có điều kiện tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giả cả, chất lượng. Những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.
Nhờ có xuất khẩu mà doanh nghiệp luôn luôn sẵn sàng đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản xuất kinh doanh phù hợp với thị trưởng và theo kịp sự phát triển chung của thế giới. Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp cũng tận dụng được năng lực sản xuất dư thừa, tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao doanh số và mở rộng thị trường.