phần mở đầu và kết luận, khoá luận bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về cơ hội và thách thức trong xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chƣơng 3: Cơ hội và thách thức của công ty TNHH XNK Gia Phạm trong xuất khẩu sản phẩm tóc giả sang thị trƣờng Châu Phi 5 Chƣơng 4: Triển vọng và giải pháp nhằm tận dụng cơ hội và đối phó với thách thức của Công ty ty TNHH XNK Gia Phạm trong việc xuất khẩu sản phẩm tóc giả sang thị trƣờng Châu Phi. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 2. Khái niệm về xuất khẩu hàng hoá Theo quy định tại Điều 28 Luật Thương mại 2005 về xuất khẩu hàng hóa: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nƣớc ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nƣớc ngoài. Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá ra nƣớc ngoài, nó không phải là hành vi bán hàng riêng lẻ mà là hệ thống bán hàng có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bƣớc nâng cao mức sống của nhân dân. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và thúc đẩy các ngành kinh tế hƣớng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ.
Các hình thức xuất khẩu hàng hoá 2. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà bên mua và bên bán trực tiếp thỏa thuận, trao đổi, thƣơng lƣợng về quyền lợi của mỗi bên phù hợp với pháp luật của các quốc gia các bên cùng tham gia ký kết hợp đồng. Trong loại hình này, bên mua hàng và bên bán hàng sẽ trực tiếp thỏa thuận, ký kết hợp đồng ngoại thƣơng với nhau. Hợp đồng ngoại thƣơng giữa 2 bên này phải phù hợp với luật lệ của cả 2 nƣớc là luật mua bán quốc tế.
Doanh nghiệp nghiên cứu kỹ thị trƣờng trong và ngoài nƣớc để từ đó xuất khẩu mặt hàng, dự tính các chi phí phát sinh để kinh doanh có lãi, đúng phƣơng hƣớng, phù hợp với chính sách luật pháp của Nhà nƣớc cũng nhƣ quốc tế. Xuất khẩu gián tiếp Đây là hình thức xuất khẩu đƣợc hình thành giữa một doanh nghiệp hoạt động trong nƣớc kinh doanh một số mặt hàng xuất khẩu nhƣng không đủ điều kiện về khả năng tài chính, đối tác kinh doanh. nên đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thƣơng thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình. Theo yêu cầu của bên uỷ thác, bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nƣớc ngoài để làm thủ tục xuất khẩu khi đó họ sẽ đƣợc hƣởng một khoản hoa hồng gọi là phí uỷ thác.
Xuất khẩu tại chỗ Xuất khẩu tại chỗ là trƣờng hợp hàng hóa đƣợc sản xuất phục vụ xuất khẩu cho một thƣơng nhân nƣớc ngoài, nhƣng hàng hóa sẽ đƣợc giao hàng tại Việt Nam cho một đơn vị theo chỉ định của thƣơng nhân nƣớc ngoài. Doanh nghiệp xuất khẩu bao gồm doanh nghiệp trong nƣớc và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 86 Thông tƣ 38/2015/TT-BTC các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ bao gồm: - Sản phẩm gia công; máy móc, thiết bị thuê hoặc mƣợn; nguyên liệu, vật tƣ dƣ thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp đồng gia công; - Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan; - Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và đƣợc thƣơng nhân nƣớc ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam. Tạm nhập tái xuất Căn cứ theo Điều 29 Luật Thƣơng mại 2005 về tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hoá đƣợc quy định cụ thể: Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá đƣợc đƣa từ nƣớc ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam.
Hình thức này là tiến hành nhập khẩu hàng hóa nhƣng không để tiêu thụ trong nƣớc mà để xuất khẩu sang một nƣớc thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Giao dịch 8 này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lƣợng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra. Gia công hàng xuất khẩu Đây là loại hình xuất khẩu mà trong đó, các công ty trong nƣớc nhận tƣ liệu sản xuất (nguyên vật liệu, máy móc) từ nƣớc ngoài. Sử dụng tƣ liệu sản xuất đó để gia công, sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của bên đặt hàng.
Cuối cùng hàng hóa thành phẩm sẽ đƣợc xuất khẩu sang các nƣớc theo chỉ định của công ty đặt hàng. Loại hình này thƣờng đƣợc các quốc gia đang phát triển, các quốc gia có nguồn lao động dồi dào áp dụng. Đây không những là điều kiện để các quốc gia đó tiếp cận với những công nghệ mới mà còn mang lại việc làm cho nguồn lao động trong nƣớc. Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lƣu là một phƣơng thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, ngƣời bán đồng thời là ngƣời mua, lƣợng hàng giao đi có giá trị tƣơng xứng với lƣợng hàng nhận về.
Mục đích của giao dịch không phải nhằm để thu ngoại tệ mà nhằm để thu về một hàng hóa khác có giá trị tƣơng đƣơng. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá 2. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế có cấp độ mở cửa ngày càng cao nhƣ hiện nay, hoạt động xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, cải kiện cán cân thanh toán, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, tạo hiệu ứng lan toả thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động và tạo động lực đổi mới sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. o Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nƣớc là xuất khẩu.
Nguồn thu này dùng để nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp hóa và trang trải những chi phí cần thiết khác cho quá trình này. o Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển - Xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành khác có cơ hội phát triển Khi một quốc gia xuất khẩu một mặt hàng nào đó kéo theo đó là sự phát triển các ngành khác phục vụ cho việc xuất khẩu mặt hàng này. Ví dụ nhƣ khi một nƣớc 9 xuất khẩu ô tô thì sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất phụ kiện, sản xuất cao su,… Hay sự phát triển của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp liên quan đến từng loại nông sản cụ thể. Chính điều này làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi một cách đồng bộ, góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nƣớc Xuất khẩu là phƣơng tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ các quốc gia khác trên thế giới, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nƣớc, thúc đẩy năng lực sản xuất phát triển hơn. - Thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó nâng cao chất lƣợng sản phẩm Khi nền kinh tế thế giới ngày càng có xu hƣớng mở cửa và hội nhập hơn, việc lƣu thông hàng hoá giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi thì sự phát triển của xuất nhập khẩu là một điều tất yếu. Cũng chính vì vậy mà để có thể cạnh tranh với hàng hoá từ các nƣớc khác và có chỗ đứng trên thị trƣờng, doanh nghiệp không chỉ cần biết cách để tận dụng tối đa nhất năng lực sản xuất của mình mà còn phải cố gắng để đổi mới phƣơng thức sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất nhằm tạo ra đƣợc những sản phẩm có thể đáp ứng và cạnh tranh về giá cả và chất lƣợng. o Tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân - Về tạo công ăn việc làm Việc tăng cƣờng đầu tƣ trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu đã thúc đẩy quy mô và tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất trong nƣớc, các ngành nghề cũ đƣợc phục hồi, ngành nghề mới ra đời, lao động đƣợc sử dụng nhiều hơn, đặc biệt là các ngành sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu.
- Về nâng cao đời sống của nhân dân Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa. Đáp ứng cho nhu cầu ngày càng đa dạng của ngƣời dân khi mức sống tăng cao, nguồn thu từ xuất khẩu chính là yếu tố quan trọng tạo động lực cho các quốc gia nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng đó của nhân dân. 10 o Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia Trong kinh tế, xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế ngoại thƣơng khác có tác động mật thiết với nhau, tức là làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia gắn chặt với phân công lao động quốc tế.