Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về thanh tra đối với nộp thuế của các doanh nghiệp thương mại tại Cục thuế tỉnh, thành phố. Chương 2 : Thực trạng thanh tra của Cục thuế tỉnh Hải Dương đối với nộp thuế của các doanh nghiệp thương mại. Chương 3 : Phương hướng và giải pháp tăng cường thanh tra của Cục thuế tỉnh Hải Dương đối với nộp thuế của các doanh nghiệp thương mại đến năm 2020. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA ĐỐI VỚI NỘP THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI TẠI CỤC THUẾ TỈNH, THÀNH PHỐ 1.
Đặc điểm, mục tiêu, vai trò và các hình thức thanh tra thuế đối với nộp thuế của các doanh nghiệp thƣơng mại. Khái niệm và đặc điểm của thanh tra đối với nộp thuế của các doanh nghiệp thương mại tại Cục thuế tỉnh. thành phố * Khái niệm thanh tra: Thanh tra ( tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển pháp luật Anh-Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”.
Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”. Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “ người làm nhiệm vụ thanh tra”.
“đoàn thanh tra của Bộ” và “đặt trong phạm vi quyền hạn của chủ thể nhất định. Như vậy Thanh tra “là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách, theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. Từ cách hiểu đó, thanh tra thuế có thể hiểu là “là hoạt động kiểm tra xem xét 7 của cơ quan quản lý thuế nhà nước đối với các đối tượng nộp thuế và chủ thể khác có liên quan nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý vi phạm trong hoạt đông chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước”. Hoạt động quản lý nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý - cơ quan thuế (CQT) tới các đối tượng quản lý - đối tượng nộp thuế (ĐTNT) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước (NSNN).
Do vậy, thanh tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động lãnh đạo quản lý nhà nước của CQT. Hoạt động quản lý của CQT bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành thanh tra thuế. Thanh tra thuế là một trong bốn chức năng quan trọng của quản lý thuế theo mô hình chức năng (tuyên truyền hỗ trợ; kế toán và xử lý tờ khai; thu nợ và cưỡng chế; thanh tra. Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế của người nộp thuế (NNT), CQT thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế.
Thanh tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Thanh tra thuế là hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế - xã hội. Thanh tra thuế được hiểu là việc thanh tra các báo cáo tài chính, tờ khai quyết toán thuế trên cơ sở các nguyên tắc kế toán, quy định của luật thuế để xác định tính chính xác số thuế NNT phải nộp. * Phân biệt thanh tra và kiểm tra thuế Giữa hoạt động thanh tra thuế và kiểm tra thuế có mối quan hệ chặt chẽ, gần 8 gũi và đan xen với nhau.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì thanh tra thuế là một loại hình đặc biệt của kiểm tra thuế, ngược lại nếu hiểu theo nghĩa hẹp, thanh tra thuế lại bao hàm cả kiểm tra thuế. Các hoạt động thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra thuế như việc kiểm tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; so sánh đối chiếu, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra…đó là kiểm tra thuế. Chính vì vậy trong thực tiễn, nhiều người trong đó có cả một số doanh nghiệp thường hay nhầm lẫn, đồng nhất kiểm tra thuế với thanh tra thuế. Tuy nhiên với tư cách là một hoạt động độc lập, thanh tra thuế có nhiều điểm khác biệt với kiểm tra thuế như sau: Về nội dung: Nội dung thanh tra thường rộng, đa dạng và phức tạp hơn kiểm tra, có thể liên quan đến nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau.
Về mục đích: Mục đích của thanh tra thuế bao giờ cũng rộng và sâu hơn các hoạt động kiểm tra thuế, đặc biệt đối với các hoạt động thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáo thì sự khác biệt về mục đích giữa hoạt động thanh tra và kiểm tra càng rõ ràng hơn nhiều. Về phương pháp tiến hành: Với mục đích rõ ràng hơn, rộng hơn. Khi tiến hành thanh tra thuế, Đoàn thanh tra cũng áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề hơn (như xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định) so với kiểm tra thuế. Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết như: tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu… theo quy định của Luật quản lý thuế.
Về trình độ nghiệp vụ: Hoạt động thanh tra thuế đòi hỏi thanh tra viên phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế - xã hội và hệ thống văn bản pháp luật nói chung, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh vực thanh tra hướng đến. Do nội dung hoạt động kiểm tra thuế ít phức tạp hơn thanh tra thuế nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra không nhất thiết đòi hỏi như nghiệp vụ thanh tra. Về phạm vi hoạt động: Phạm vi hoạt động của kiểm tra thuế thường theo bề rộng, 9 diễn ra thường xuyên, liên tục. Phạm vi hoạt động thanh tra thuế thường hẹp hơn, chỉ tập trung vào các doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm về thuế.
Về thời gian tiến hành: Hoạt động thanh tra thuế thường có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu; nhiều mối quan hệ cần được làm rõ, cho nên phải sử dụng thời gian nhiều hơn so với kiểm tra thuế. Thời gian thanh tra thuế thường là không quá 30 ngày, kiểm tra thường không quá 5 ngày làm việc thực tế. Như vậy, giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối. Khi tiến hành một cuộc thanh tra thuế, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ đó thực chất là kiểm tra thuế.
Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra thuế để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra thuế. Kiểm tra thuế và thanh tra thuế là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại, gắn bó với nhau. Do vậy, khi nói đến một khái niệm người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi là thanh tra, kiểm tra thuế hay kiểm tra, thanh tra thuế. * Đặc điểm của thanh tra thuế - Phạm vi điều chỉnh của thanh tra thuế là khá rộng; đối tượng thanh tra rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
- Thanh tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các đối tượng thanh tra thuế. Các ĐTNT thường xuyên tìm mọi biện pháp nhằm tránh, lách và trốn thuế, gây khó khăn cho công tác thanh tra. - Công tác thanh tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người cán bộ thuế. Mục tiêu và vai trò của thanh tra đối với nộp thuế của các doanh nghiệp thương mại tại Cục thuế tỉnh, thành phố * Mục tiêu của thanh tra thuế: Hoạt động thanh tra thuế nhằm vào các mục tiêu sau: - Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế.
10 - Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế. - Thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung. - Động viên, khen thưởng để phát huy nhân tố tích cực, đồng thời tăng cường chấn áp và xử lý nghiêm những hành vi tiêu cực trong việc thực hiện pháp luật thuế. * Vai trò của thanh tra thuế: - Thanh tra thuế là hoạt động nhằm phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm nảy sinh trong quản lý thuế.
Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, thanh tra thuế chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật của ĐTNT. Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không có khiếm khuyết. Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách luật để trục lợi cá nhân.