Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1. Khái niệm, mục đích, nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế 1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế Theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [tr.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam biên soạn, kiểm tra là "xem xét thực chất, thực tế" [tr. Theo từ điển Luật học, kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét. Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính, ''Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá'' Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về Luật thuế đại cương và lý thuyết thuế”, kiểm tra thuế là ''hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai'' [15, tr.153] Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế). Về khái niệm thanh tra, theo từ điển tiếng Việt: "thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp" [tr.882], thanh tra là ''loại hình đặc biệt của kiểm tra'' [47, tr.19] Theo Luật Thanh tra 2004 thì Thanh tra là " việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý" 4 Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính thì thanh tra thuế là ''hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật'' [tr.437] Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế.
Giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế tồn tại một mối quan hệ sau: Thanh tra thuế cũng là một hoạt động của kiểm tra thuế nên thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau: - Thanh tra, kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý thuế. Đều có cùng một mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lí những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lí thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. - Chủ thể kiểm tra thuế, thanh tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế. - Đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế.
- Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế - Về phương pháp, thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một các chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lí vi phạm. - Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lí thuế. Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra cũng có sự khác nhau nhất định: - Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế nhưng chủ thể kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối 5 tượng kiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể và đối tượng kiểm tra đồng nhất. - Thứ hai, tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước.
Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước có thể chỉ là hoạt động quản lý đơn thuần. - Thứ ba, nội dung hoạt động thanh tra thuế thường là kiểm tra ở giai đoạn sau, khi các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh. Nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết. Nội dung kiểm tra thuế thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết.
Tất nhiên, nội dung kiểm tra bao gồm cả những nội dung cụ thể của kiểm ra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế phát sinh. - Thứ tư, do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế. Từ những phân tích trên, có thể rút ra các nhận xét sau: Mặc dù có những điểm khác nhau nhưng thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế. Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để tránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra.
Nguyên tắc hoạt động, việc phân loại, phương pháp và các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra ĐTNT cũng tương tự như các nguyên tắc hoạt động, việc phân loại, phương pháp và các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói chung. Nguyên tắc hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế. - Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế. Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình thanh tra, kiểm tra thuế chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải 6 thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý. Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể thanh tra (cơ quan, đoàn thanh tra và các thành viên) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra, kiểm tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị của mình. Đối tượng thanh tra, kiểm tra phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể thanh tra, kiểm tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu. - Bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Tính chính xác đòi hỏi chủ thể thanh tra, kiểm tra phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung kiểm tra, thanh tra; xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận thanh tra, kiểm tra chính xác.
Tính chính xác bảo đảm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao. Muốn đảm bảo tính chính xác, không chỉ đòi hỏi quan điểm đúng đắn mà còn cần phải có kiến thức, năng lực mới có thể đem lại kết quả chính xác. Tính khách quan yêu cầu chủ thể thanh tra, kiểm tra phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng. Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại.
Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận thanh tra, kiểm tra có tính chính xác mới thể hiện được tính khách quan của hoạt động thanh tra, kiểm tra. Tính trung thực đòi hỏi chủ thể thanh tra, kiểm tra phải tuân thủ các quy tắc về đạo dức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế. Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể thanh tra, kiểm tra phải thông báo đầy đủ, công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định thanh tra, kiểm tra đến kết luận thanh tra, kiểm tra để các tổ chức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện. Việc công khai hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính khách quan của hoạt động thanh tra, kiểm tra, hạn chế những tiêu cực phát sinh 7 trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tuỳ tính chất của cuộc thanh tra, kiểm tra cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra. Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng kiểm tra, thanh tra được trình bày ý kiến, quan điểm về những nội dung thanh tra, kiểm tra cũng như về hoạt động của đoàn thanh tra, kiểm tra cụ thể, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể thanh tra, kiểm tra. Tính kịp thời: Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu quản lý thuế trong những thời điểm nhất định. Vì vậy, thanh tra, kiểm tra kịp thời ngoài việc giúp cho đối tượng kịp thời nhận rõ sai phạm, để sửa chữa, khắc phục ngay, tránh vi phạm kéo dài còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách thuế phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế.