CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan Khái niệm BT TDTT Bài tập (BT) TDTT là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với qui luật giáo dục thể chất, là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao [44] Theo Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên, BT là một tổ hợp các tác động có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định [22]. Để nắm được nội dung của BT TDTT nào đó, nhà sư phạm không những cần hiểu những biến đổi sinh lý, sinh hóa và những biến đổi khác xảy ra trong cơ thể do ảnh hưởng của BT mà điều chủ yếu là hiểu được phương hướng tác dụng của BT đối với việc thực hiện những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đặt ra [51]. Phân loại các bài tập TDTT có nghĩa là sắp xếp chúng thành những nhóm sao cho những loại hình bài tập trong mỗi nhóm có sự giống nhau về những tính chất cơ bản nhất.
Ý nghĩa của phân loại bài tập TDTT: bài tập TDTT rất đa dạng và phong phú, nhờ việc phân loại ta dễ định hướng, lựa chọn và sử dụng chúng theo mục đích của mình [33]. Một đặc trưng quan trọng của BT TDTT là nó được xây dựng trên cơ sở những hoạt động, vận động có ý thức. Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý: sự biểu hiện về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc, v.v… có ảnh hưởng mạnh với biểu hiện ý chí, tình cảm, tính cách. [44] Hình thức và nội dung của BT TDTT liên quan hữu cơ với nhau, trong đó nội dung là mặt quyết định và động hơn.
Điều đó có nghĩa là, để thực hiện được một hoạt động vận động quy định nào đó cao hơn khả năng hiện có, trước hết phải thay đổi một cách tương ứng mặt nội dung của nó. Nội dung thay đổi thì hình thức BT cũng thay đổi. Ví dụ, sức mạnh hoặc sức bền thay đổi thì biên độ, tần số động tác cũng có thể thay đổi. 6 Hình thức cũng có ảnh hưởng đến nội dung.
Hình thức chưa hoàn thiện của BT sẽ cản trở sự biểu hiện tối đa các khả năng của cơ thể. Ngược lại hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất [59]. Trong quá trình lựa chọn BT phải đảm bảo 3 yêu cầu nhằm mục đích phù hợp với đặc điểm chuyên môn: Lựa chọn BT phải đảm bảo chỉ tiêu đánh giá cụ thể và hình thức tập luyện phù hợp với đặc điểm đối tượng, điều kiện thực tiễn; Lựa chọn BT phải đảm bảo độ tin cậy và mang tính thông báo cần thiết với đối tượng nghiên cứu; Lựa chọn BT phải đảm bảo tính định hướng toàn diện để hình thành và phát triển thể lực và kỹ - chiến thuật. Khái niệm về kỹ thuật bài tập TDTT: Kỹ thuật bài tập TDTT được một số tác giả nhận định như sau: Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn (2000) [44] Bài tập kỹ thuật thể thao hợp lý, bảo đảm phát huy được hiệu quả và đồng thời tiết kiệm được năng lượng trong khi vận động.
Theo Bùi Quang Hải (2018), [13] đưa ra khái niệm chung về kỹ thuật bài tập TDTT (hay còn gọi là bài tập thể chất) như sau: Kỹ thuật BT TDTT là những cách thức thực hiện các động tác, mà nhờ những cách đó nhiệm vụ vận động được giải quyết một cách hợp lý với hiệu quả tương đối cao hơn. Bao gồm: Nguyên lý kỹ thuật: Là một tổng thể bao gồm tất cả các khâu và các nét trong cơ cấu động lực học, động học và nhịp điệu của động tác và tất nhiên đó là các khâu và các nét cần thiết để giải quyết nhiệm vụ vận động theo một cách thức nhất định (dùng sức theo thứ tự đã quy định, dùng một số cử động cần thiết có phối hợp về không gian và thời gian). Khâu quyết định của kỹ thuật: Là một phần quyết định, quan trọng nhất trong cách thức thực hiện nhiệm vụ vận động. Việc thực hiện khâu quyết định trong kỹ thuật các động tác thể thao thường xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn và đòi hỏi sự cố gắng lớn của cơ bắp.
7 Các chi tiết của kỹ thuật: Là những đặc điểm thứ yếu của động tác, mà không phá vỡ cơ chế cơ bản của động tác. Các chi tiết kỹ thuật động tác ở VĐV khác nhau sẽ khác nhau và trong đa số trường hợp chúng phụ thuộc vào các đặc điểm hình thái và chức năng của cá nhân VĐV. Việc sử dụng đúng đắn đặc điểm cá nhân là thể hiện kỹ thuật cá nhân. Với mục đích giáo dục và khoa học người ta chia một động tác nguyên vẹn thành các giai đoạn hoặc các phần nhất định nối tiếp nhau theo thứ tự thời gian.
Mỗi động tác không chu kỳ có thể phân chia thành 3 giai đoạn tương ứng với chức năng của chúng trong lúc hoạt động hoàn chỉnh: Giai đoạn chuẩn bị , giai đoạn cơ bản và giai đoạn kết thúc. Cả 3 giai đoạn này liên quan với nhau, tiến hành liền nhau và xác định lẫn nhau. Giai đoạn chuẩn bị: là tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện động tác ở giai đoạn cơ bản. Giai đoạn cơ bản: nhằm trực tiếp giải quyết nhiệm vụ vận động cơ bản.
Điều quan trọng nhất trong giai đoạn này là sử dụng hợp lý các động lực đúng chỗ, đúng hướng và đúng thời điểm cần thiết. Ở một số bài tập không chu kỳ, không phải chỉ có một mà là một số giai đoạn cơ bản. Giai đoạn kết thúc: là dừng dần một cách tiêu cực hoặc là được hãm lại một cách tích cực nhằm mục đích giữ thăng bằng cho cơ thể. Khái niệm nâng cao: Theo từ điển Tiếng Việt khái niệm nâng cao được hiểu là làm tăng thêm.
Khái niệm hiệu quả: Theo từ điển Tiếng Việt khái niệm hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại. Như vậy, có thể hiểu nâng cao hiệu quả kỹ thuật BT TDTT chính là làm tăng hơn kết quả thực hiện bài tập theo yêu cầu và đạt hiệu quả cao nhất khi thực hiện kỹ thuật động tác. Đặc điểm huấn luyện kỹ thuật BT TDTT Huấn luyện thể thao là quá trình sư phạm mang tính chuyên biệt, do vậy huấn luyện thể thao có những đặc điểm riêng và rõ nét sau [14] [44]: Huấn luyện thể thao luôn hướng đến việc dành thành tích thể thao cao nhất trong môn thể thao 8 chuyên sâu; Huấn luyện thể thao là quá trình chuyên môn hóa cao; Huấn luyện thể thao thể hiện rõ tính hệ thống và tính kế hoạch; Huấn luyện thể thao thể hiện rõ tính khoa học. Tương tự như vậy, huấn luyện bài tập kỹ thuật trong bài tập thể thao đều có những đặc tính riêng biệt như sau: 1.
Các đặc tính trong huấn luyện kỹ thuật BT TDTT Theo Nguyễn Toán, Nguyễn Sỹ Hà (2004) [45] và Bùi Quang Hải (2018) [13] có những đánh giá nhận định chung về đặc điểm huấn luyện kỹ thuật bài tập TDTT theo 5 đặc tính sau: Đặc tính không gian của kỹ thuật BT TDTT: Người ta còn tách các yếu lĩnh động tác theo đặc tính không gian là: tư thế cơ thể và quỹ đạo chuyển động của các bộ phận cơ thể. Tư thế cơ thể có: Tư thế ban đầu trước khi thực hiện động tác (tạo điều kiện thuận lợi cho các động tác tiếp theo); Tư thế khi thực hiện động tác (nhằm trực tiếp giải quyết những nhiệm vụ mỗi BT TDTT đề ra). Quỹ đạo của chuyển động: Căn cứ vào hình dáng của quỹ đạo người ta phân biệt mọi chuyển động làm hai loại: Theo đường thẳng và theo đường cong. Sự tác động của BT TDTT đối với cơ thể người tập có hiệu quả nhiều hay ít và việc thực hiện kỹ thuật bài tập hiệu quả hay không phụ thuộc vào quỹ đạo chuyển động của vật thể, hoặc dụng cụ tập luyện.
Đặc tính thời gian của kỹ thuật BT TDTT: Người ta phân chia một động tác nguyên vẹn thành các giai đoạn theo thời gian, bao gồm: số thời gian thực hiện động tác và nhịp độ động tác. Số thời gian thực hiện động tác là khoảng thời gian giữ các tư thế và thực hiện các động tác. Người ta có thể thay đổi khối lượng vận động bằng cách thay đổi thời gian thực hiện bài tập. Ví dụ: thời gian chạy, thời gian căng thẳng tĩnh lực.
Đặc tính động học (đặc tính không gian-thời gian) của kỹ thuật BT TDTT: Đó là tốc độ chuyển động. Tốc độ thể hiện độ nhanh của sự di chuyển của một vật thể trong không gian trong một đơn vị thời gian. Tốc độ được xác định bằng tỉ số giữa độ dài đoạn đường mà vật thể đã vượt qua so với khoảng thời gian dùng để vượt qua đoạn đường đó. Để xác định tốc độ, người ta đo bằng m/s.
9 Đặc tính động lực học: Đó là những lực ảnh hưởng đến động tác của cơ thể con người. Nó được chia làm 2 loại: Lực bên trong và lực bên ngoài. Lực bên trong bao gồm: Các lực tích cực của cơ quan vận động: Lực kéo của cơ bắp; Các lực thụ động của cơ quan khớp vận động: Lực đàn hồi cơ bắp, độ nhờn khớp.; Các phản lực: Những lực phản xuất hiện khi các bộ phận cơ thể tác động lẫn nhau trong quá trình vận động có gia tốc. Lực bên ngoài bao gồm: Là những lực từ bên ngoài tác động lên cơ thể: Trọng lượng cơ thể của bản thân người tập; Các lực phản của điểm tựa; Lực của môi trường (nước, không khí, địa hình, lực đối kháng v.
Các đặc tính nhịp điệu: Đây là một trong những đặc tính tổng hợp nhất của kỹ thuật động tác. Nó biểu hiện mức độ tương ứng của các thành phần động tác theo mức nhấn mạnh, theo thời gian và trong không gian. Sự luân phiên đúng cách và đúng lúc giữa căng thẳng và thả lỏng cơ bắp khi thực hiện BT TDTT là một trong những chỉ số quan trọng nhất về việc nắm vững kỹ thuật bài tập đó. Nhịp điệu vận động hợp lý được hình thành như là một tập hợp hoàn chỉnh của những nỗ lực để tác động tương hỗ với các lực cản của môi trường bên ngoài.
Vì vậy khi thay đổi các điều kiện bên ngoài thì cần phải thay đổi tương ứng cả nhịp điệu vận động.