Chương 1: Lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng công ty đầu tư Hà Thanh – CTCP Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Tổng công ty đầu tư Hà Thanh – CTCP 4 Chƣơng 1 LÝ LU N CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khá n ệm vốn k nh doanh - Khái niệm về vốn: Có thể thấy vốn có vai trò quan trọng không thể thiếu đối với doanh nghiệp ở bất kỳ mục đích sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ gì trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu quan tâm, tiếp cận đa chiều ở các góc độ khác nhau.
Trước hết, vốn được hiểu theo nghĩa rộng gồm có nguồn tài lực, chất xám tiền bạc nhân lực tích lũy của các cá nhân, DN hay là 1 quốc gia. Còn theo nghĩa hẹp, nó chỉ là tiềm lực về tài chính của cá nhân, DN hay là 1 quốc gia [5; tr 24]. Ở nhiều góc độ khác nhau sẽ có những định nghĩa cũng như cách nhìn khác nhau về vốn, tuy nhiên hiểu đơn giản nhất là: Vốn DN là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ tiền tệ đó là để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.Vốn được biểu hiện bằng các tài sản như là: tiền mặt, các tài sản, quyền tài sản có giá trị thành tiền.
Vốn thể hiện được tiềm lực kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì thế, để một doanh nghiệp vận hành và phát triển thì không thể thiếu vốn. Vốn DN là một trong các yếu tố tạo thành thành phẩm trong quá trình sản xuất, các hoạt động kinh doanh và sản xuất trong DN thực hiện được cần phải có vốn và các yếu tố khác như sức lao động, tư liệu lao động…Có thể xem vốn ảnh hưởng lớn đến sự thành bại trong kinh doanh và sản xuất, nó là điều kiện cần trong nhiều hoạt động DN. Trong hoạt động kinh doanh, DN cần dùng lượng vốn kinh doanh nhằm trang bị các thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, hình thành các loại tài sản lưu động, cố định để phục vụ cho hoạt 5 động của mình.
Điều đó cho thấy, nâng cao hiệu quả vốn kinh doanh của DN cần thực hiện nâng cao công tác quản lý sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. - Khái niệm vốn kinh doanh: VKD của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN thực hiện bỏ ra nhằm đầu tư tạo nên các tài sản cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Hoặc có thể hiểu vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà DN đã đầu tư và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận cho DN [13; tr78] Theo Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008), vốn kinh doanh là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất nào DN cần phải có vốn kinh doanh [1; tr34].
VKD là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất đang được sử dụng trong hoạt động SXKD của các ngành sản xuất vật chất [8; tr34]. VKD là tổng lượng tiền vốn dùng để đầu tư phụ vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp từ khi thành lập cho đến quá trình vận hành và phát triển. Vốn kinh doanh bao gồm toàn bộ giá trị tài sản kể cả các tài sản hữu hình (vật chất, tiền, thiết bị, máy móc) và vô hình(thương hiệu, giá trị công nghệ, sáng chế. VKD có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định đến hoạt động, định hướng phát triển của doanh nghiệp, cá nhân.Vốn kinh doanh là từ chỉ chung của tổng thể tất cả các loại vốn như: Vốn cố định, vốn lưu động, vốn chủ sở hữu, vốn vay, vốn dài hạn, vốn ngắn hạn.
Vốn dùng để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh với mục tiêu là quỹ tích lũy, sinh lời theo thời gian. Quá trình hình thành và hoạt động của doanh nghiệp thì vốn kinh doanh cần có trước. Sau khi bỏ VKD để kinh doanh và sản xuất, VKD sẽ được thu về nhằm bổ sung, cung cấp cho các hoạt động tiếp theo ở kỳ kinh doanh và sản xuất sau. Trong trường hợp nếu bị giảm, mất VKD có nghĩa là dòng tiền tài chính của DN bị ảnh hưởng, nguy 6 cơ phá sản doanh nghiệp là có thể cao.
Như vậy, có thể hiểu VKD trong DN là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất đang được sử dụng (Nhà xưởng, vật tư, máy móc thiết bị, …) trong hoạt động SXKD trong DN nhằm mục đích sinh lời. Vốn kinh doanh luôn luôn vận động, nó có thể tồn tại dưới các dạng như tiền hoặc tài sản như các máy móc, thiết bị,… Và sau cùng thì nó lại trở về dưới dạng tiền tệ. Vốn có thể sẽ tăng lên hoặc giảm xuống tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc trưn của vốn k nh doanh - Thứ nhất: Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định.
Có nghĩa là vốn đại diện cho giá trị biểu hiện bằng tiền của tài sản hữu hình và tài sản vô hình sử dụng trong hoạt động SXKD của DN như: nhà xưởng, vật kiến trúc, đất đai, máy móc trang thiết bị, quyền phát minh sáng chế, vị trí địa lý… Do đó, để quản lý tốt VKD, DN phải quản lý chặt chẽ về cả hai mặt giá trị và hiện vật. - Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời; Mục đích vận động của vốn trong DN là vốn phải sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra. Đây là nguyên tắc cơ bản của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Thứ ba: Vốn chỉ phát huy tác dụng khi được tích tụ tập trung tới một lượng nhất định. Bởi bất kỳ DN nào cũng có lợi thế riêng nhưng nếu lượng vốn không đủ lớn thì không thể phát huy tối đa lợi thế đó, khó tiến hành kinh doanh hay đầu tư. Vì vậy, DN luôn cần một lượng vốn đủ lớn để đáp ứng yêu cầu tối thiểu đặt ra trong kinh doanh, đòi hỏi DN phải lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết. - Thứ tƣ: Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn bỏ ra ngày hôm nay sẽ khác với một đồng vốn bỏ ra vào ngày mai.
Điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và xem xét hiệu quả mà nó mang lại, chính vì 7 vậy xem xét giá trị thời gian của đồng vốn chính là điều cần quan tâm khi huy động và sử dụng vốn của các DN. - Thứ năm: Vốn phải được gắn liền với một chủ sở hữu nhất định và được sử dụng có hiệu quả. Vì chỉ có những đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu nhất định, việc sử dụng vốn gắn liền với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì đồng vốn đó mới được sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả. VKD của DN được huy động từ nhiều nguồn khác nhau mỗi nguồn vốn lại có chi phí sử dụng vốn khác nhau.Việc sử dụng VKD có hiệu quả cũng gắn liền với việc DN lựa chọn được cơ cấu vốn tối ưu có chi phí sử dụng vốn bình quân thấp nhất.
- Thứ sáu: Vốn được quan niệm như một loại hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt. Vốn là hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác. Nhưng khác với hàng hóa thông thường quyền sở hữu với quyền sử dụng vốn có thể gắn liền cũng có thể tách rời nhau. Chính vì thế người ta chỉ mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường.
Những người cần vốn đến thị trường huy động vốn phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định cho người sở hữu nguồn vốn để được quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định. Ph n loạ vốn kinh doanh Cách phân loại VKD nhằm mục đích để quản lý và sử dụng các mức sử dụng hiệu quả đồng vốn. Phân loại VKD để hướng đến quá trình phân tích được các phát sinh chi phí đầu tư để thực hiện hoạt động SXKD. Ở mỗi góc độ có thể phân loại vốn khác nhau, cụ thể: - Dựa vào đặc điểm luân chuyển nguồn vốn khi tham gia vào quá trình SXKD + VCĐ: là những giá trị tài sản như: máy móc, thiết bị có tác dụng trong thời gian dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, giữ nguyên hình thái hiện vật của nó, chuyển 1 phần giá trị của nó vào sản phẩm làm ra.
Vốn cố định là giá trị cố định của các loại tài sản có giá trị lớn, chúng có thời gian sử dụng qua nhiều chu kỳ hoạt động của chủ sở hữu; nó được biểu hiện bằng tiền 8 của TSCĐ trong DN, tham gia vào nhiều quá trình SXKD và giá trị thu về dần sau nhiều chu kỳ SXKD [10; tr13]. TSCĐ bao gồm: Một là, TSCĐ hữu hình (là loại tài sản thực hiện vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh như các tư liệu lao động đáp ứng điều kiện đó, nó giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, thực hiện khấu hao trong quá trình sử dụng.); Hai là TSCĐ vô hình (Cũng tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, là tài sản không có hình thái vật chất); Và ba là TSCĐ thuê tài chính (là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng).
+ VLĐ: là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn; Là toàn bộ các tài sản khả biến, những tài sản này thường chỉ tham gia vào 1 quá trình sản xuất, chuyển hóa toàn bộ giá trị của nó vào sản phẩm.