CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Khái niệm vốn kinh doanh Phạm trù vốn kinh doanh (VKD) luôn gắn liền với khái niệm Doanh nghiệp (DN). Theo điều 4 luật DN 2005: “ DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Mỗi DN đều có những đặc thù riêng song tham gia vào quá trình SXKD đều cần phải có sự kết hợp của ba yếu tố đầu vào cơ bản sau: Sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Để có được ba yếu tố này đòi hỏi DN phải ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Lượng vốn tiền tệ đó được gọi là VKD của DN. Vốn kinh doanh thường xuyên vận động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó có thể là tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm…khi kết thúc một vòng luân chuyển thì vốn kinh doanh lại trở về hình thái tiền tệ. Như vậy, với một số vốn ban đầu nó không chỉ được bảo tồn mà còn được tăng lên do hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi. Từ những phân tích trên có thể hiểu VKD như sau: VKD của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích sinh lời. Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển của VKD khi tham gia vào quá trình SXKD thì VKD của doanh nghiệp được chia làm hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
Đây là hình thức phân loại thể hiện rõ ràng, chính xác và hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng. VCĐ của doanh nghiệp Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, để có được các TSCĐ cần thiết cho hoạt động kinh doanh đòi hỏi DN phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ nhất định, lượng vốn tiền tệ này được gọi là VCĐ của DN. “Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng 13 Luan van trước để hình thành nên TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng luân chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị”. Đặc điểm luân chuyển của VCĐ trong quá trình sản xuất Giá trị của vốn luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất và được thu hồi dưới hình thức khấu hao cơ bản.
Như vậy, trong qúa trình tham gia vào sản xuất, một phần giá trị của VCĐ được rút ra khỏi quá trình sản xuất và được tích lũy lại dưới hình thức quỹ khấu hao cơ bản, trong khi đó một bộ phận giá trị vẫn được “ cố định” trong hình thái của TSCĐ. Và cứ sau mỗi chu kỳ sản xuất , bộ phận giá trị “ hao mòn” rút ra khỏi qua trình sản xuất tăng dần, do đó quỹ khấu hao cơ bản tăng dần lên còn bộ phận “ cố định” trong TSCĐ giảm dần đi. Khi TSCĐ hết thời gian sử dụng thì VCĐ mới hoàn thành “một vòng luân chuyển”. Đặc điểm luân chuyển của VCĐ đó chi phối việc bảo toàn vốn ở các khâu từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng, quản lý TSCĐ trong kinh doanh, trích khấu hao để thu hồi vốn và sử dụng quỹ khấu hao cơ bản.
Trong quá trình luân chuyển, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất nhưng giá trị của nó giảm thông qua hình thức khấu hao. Bởi vậy, yêu cầu của việc quản lý và sử dụng VCĐ là phải dựa trên hai cơ sở: một là, phải đảm bảo cho TSCĐ của doanh nghiệp được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sử dụng của nó; hai là, phải tính toán chính xác số trích lập quỹ khấu hao bù lại giá trị hao mòn, thực hiện đổi mới TSCĐ. VCĐ của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với một doanh nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển, do đó việc thường xuyên sửa chữa đổi mới, bổ sung TSCĐ và tăng thêm VCĐ trong các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của lao động. VLĐ của doanh nghiệp Khái niệm Để hình thành nên các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông đảm bảo cho quá trình SXKD, các DN phải bỏ ra một số vốn đầu tư nhất định.
Số vốn này được gọi là VLĐ. Vì vậy, “VLĐ của DN là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN được thực hiện thường xuyên, liên tục. VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh” Theo vai trò của từng loại VLĐ trong quá trình SXKD thì VLĐ được phân bổ ở các khâu như sau: 14 Luan van VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: gồm giá trị của các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ, bao bì. VLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
VLĐ trong khâu lưu thông: gồm các khoản giá trị thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán. Đặc điểm luân chuyển của VLĐ VLĐ luôn vận động chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng cho nên VLĐ cũng tuần hoàn không ngừng, được gọi là quá trình chu chuyển của VLĐ. Trong quá trình sản xuất TSLĐ luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm, vì vậy giá trị của nó cũng được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị thành phẩm tiêu thụ, đặc điểm này quyết định sự vận động của VLĐ: T-H…sx…H’- T’(T’>T).
VLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp và không còn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. vốn này được thu hồi sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh và tiếp tục được đưa vào chu kỳ sản xuất tiếp theo một cách liên tục. Từ đặc điểm, phương thức chuyển dịch giá trị và vận động của VLĐ mà trong công tác quản lý vốn, doanh nghiệp cần quan tâm: Phải xác định được VLĐ cần thiết cho chu kỳ SXKD của doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý vốn, đảm bảo đầy đủ, kịp thời VLĐ cho quá trình SXKD được liên tục tránh ứ đọng vốn.
Tổ chức khai thác các nguồn tài trợ VLĐ cũng như bảo toàn phát triển VLĐ để việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn. Nguồn hình thành vốn kinh doanh của DN. Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn thì VKD của doanh nghiệp gồm 2 nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm: Nguồn vốn đầu tư ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập chủ doanh nghiệp phải đầu tư một số vốn nhất định. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mỗi nguồn vốn đầu tư ban đầu thuộc về các đối tượng khác nhau: Với doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn đầu tư ban đầu là vốn điều lệ của doanh nghiệp nhà nước do ngân 15 Luan van sách nhà nước cấp; đối với doanh nghiệp tư nhân, nguồn vốn đầu tư ban đầu do chủ doanh nghiệp bỏ ra để thành lập doanh nghiệp; đối với công ty liên doanh liên kết, nguồn vốn đầu tư ban đầu là những khoản đóng góp theo tỷ lệ cam kết giữa các chủ đầu tư khi thành lập doanh nghiệp; đối với công ty cổ phần nguồn vốn đầu tư ban đầu do các chủ đầu tư góp Nguồn vốn tự bổ sung: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tạo ra một luồng tiền nội bộ.
Luồng tiền này tự phản ánh khả năng tự tài trợ cao nhất mà doanh nghiệp có thể khai thác. Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng với mỗi doanh nghiệp ở bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào. Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp được sử dụng một cách lâu dài mà không phải cam kết thanh toán. Quy mô, tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu càng lớn thì tiềm lực tài chính của doanh nghiệp này càng mạnh và tính chủ động trong kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng cao.
Tuy nhiên, cũng chính vì đặc điểm này của nguồn vốn chủ sở hữu mà tạo ra hạn chế về mặt hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn này. Vì nguồn vốn này do doanh nghiệp toàn quyền quyết định việc sử dụng mà không chịu sự giám sát khách quan từ bên ngoài, lại không phải cam kết thanh toán nên có thể doanh nghiệp không quan tâm đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm bảo toàn và phát triển vốn một cách lâu dài. Nguồn vốn vay: Là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán bao gồm nguồn vốn tín dụng và nguồn vốn chiếm dụng. Nguồn vốn tín dụng Nguồn vốn tín dụng bao gồm tất cả các khoản vay của doanh nghiệp với các tổ chức, cá nhân như: khoản vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng và các pháp nhân khác, vay từ phát hành trái phiếu, vay các cá nhân.
Khi sử dụng nguồn vốn này, doanh nghiệp thường phải trả lãi và có nghĩa vụ thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đến hạn. Việc đi vay vốn có thể đáp ứng nhu cầu về vốn trong ngắn hạn, dài hạn cho doanh nghiệp, hoặc có thể huy động số vốn lớn kịp thời phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh được ổn định, liên tục. Mặt khác, đây cũng là phương thức sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế, bởi lẽ vốn đi vay sẽ hợp thức hóa một cách tối ưu các nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh bởi chu kì của sản xuất kinh doanh.