Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đội ngũ viên chức. Chương 2: Thực trạng sử dụng đội ngũ viên chức tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hòa Bình. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ viên chức tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hòa Bình 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC 1. Một số khái niệm 1.
Đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng không phải ai cũng hiểu được đơn vị sự nghiệp là gì, đặc điểm của đơn vị sự nghiệp là gì. Đơn vị sự nghiệp gồm: Đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Đơn vị sự nghiệp thuộc đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị sự nghiệp thuộc doanh nghiệp. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả sẽ tập trung làm rõ về đơn vị sự nghiệp công lập. Căn cứ Khoản 1,2 Điều 9, Luật Viên chức số 58/2010/QH12: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [6] Như vậy có thể thấy trước hết đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành lập theo quy định của pháp luật.
Đơn vị sự nghiệp được thành lập có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. Đơn vị sự nghiệp thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. 11 Theo chương II Nghị định 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/6/2021 quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập đã nêu rõ phương thức để xác định mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp. Đơn vị sự nghiệp bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên. - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi thường xuyên - Đơn vị sự nghiệp do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. [7] Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp. - Thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị, trong đó chủ yếu là các cơ quan nhà nước và mỗi đơn vị sự nghiệp công lập sẽ là nhà nước đầu tư và xây dựng để vận hành, tùy thuộc vào từng loại đơn vị sự nghiệp mà từ đó nhà nước có sự hỗ trợ ngân sách ở những cấp độ khác nhau.
- Mục đích đơn vị sự nghiệp công lập là hướng tới cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực nhà nước chịu trách nhiệm cung cứng cho người dân như y tế, giáo dục, văn hóa, du lịch…hoặc các lĩnh vực mà khu vực phi nhà nước không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm để đầu tư. - Cơ chế hoạt động của các đơn vụ sự nghiệp công lập đang ngày càng được đổi mới theo hướng tự chủ và được thực hiện hạch toán một cách độc lập, thường sẽ hoạt động theo cơ chế độ thủ trưởng. - Nhân sự tại các đơn vị sự nghiệp công lập thông thường được tuyển dụng theo VTVL, làm việc theo hợp đồng làm việc. Trong khi đó người đứng đầu, thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập là viên chức theo Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2020).
Viên chức Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức" và "viên chức". Theo Điều 2 Luật Viên chức số 58/2010/QH12: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Có thể thấy viên chức trước hết phải là công dânViệt Nam, có đầy đủ năng lực, hành vi dân sự và không trong thời gian chịu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Viên chức được tuyển dụng vào làm việc tại các vị trí công việc cụ thể theo nhu cầu công việc, VTVL, chức danh nghề nghiệp, thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp vụ, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định. Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc (Chế độ hợp đồng làm việc của viên chức theo quy định mới nhất tại Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2019, với nội dung sửa đổi, bổ sung điều 25 trong luật viên chức 2010), có hiệu lực thi hành từ 01/07/2020 là chế độ hợp đồng làm việc có xác định thời hạn). Viên chức được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, phải tham gia đầy đủ các chế độ bảo hiểm như: Bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo 13 hiểm y tế (theo Điều 2 Luật BHXH 2014, Khoản 6 Điều 1 Luật BHYT sửa đổi 2014)[8]; bảo hiểm thất nghiệp (theo Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm)[9], Được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý. Phân loại viên chức: Căn cứ theo Khoản 1,Điều 3, Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính Phủ, viên chức được phân loại như sau: “Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phục cấp chức vụ quản lý; Viên chức không giữ chức vụ quản lý là người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập”.3 Đội ngũ viên chức Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ.
Ngày nay khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách rộng rãi như: đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đội ngũ tri thức, đội ngũ y bác sỹ… xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là: “Khối lượng người được tập hợp lại một cách chỉnh tề và được tổ chức lại thành lực lượng chiến đấu”. Theo Hồ chí Minh 1974 NXB sự thật tr328: “Đội ngũ là một tập hợp, gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng”. Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau, những đều có chung một điểm đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục đích nhất định. 14 Từ các cách hiểu tác giả đưa ra khái niệm về đội ngũ viên chức như sau: Đội ngũ viên chức là một tập thể gồm số đông người, được tuyển dụng vào làm việc tại các vị trí công việc cụ thể theo nhu cầu công việc; có cùng mục đích, làm việc theo sự chỉ huy thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần.
Sử dụng viên chức Sử dụng viên chức là hoạt động tiếp theo của quá trình tuyển dụng. Sử dụng viên chức về bản chất thì chính là sử dụng nhân lực thường được hiểu là việc “Dùng người” hoặc “Sử dụng người” trong tổ chức, đơn vị. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sử dụng là lấy làm phương tiện để phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó’[11]. Có thể hiểu theo nghĩa “Sử dụng viên chức là sử dụng con người làm phương tiện để phục vụ cho mục đích, mục tiêu của tổ chức, đơn vị”.
Theo Lê Thanh Hà (2009) Giáo trình quản trị nhân lực tập II nhà xuất bản Lao động - xã hội tr134 “Sử dụng nhân lực là sự đối xử của tổ chức đối với nhân viên và nhà quản lý làm việc cho tổ chức đó. Mục tiêu của sử dụng nhân lực là sử dụng có hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức đó, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, qua đó giúp tổ chức hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Nhiệm vụ cơ bản của sử dụng nhân lực là bố trí đúng người, đúng việc; phát huy có hiệu quả khả năng, năng lực của nhân viên; thu hút và giữ chân nhân viên; làm cho nhân viên luôn có động lực để làm việc và phấn đấu vươn lên; tạo được sự trung thành của nhân viên đối với tổ chức và tạo được bầu không khí, tâm lý thuận lợi trong tập thể lao động”.[12] Theo Cấn Hữu Dạn (2020), Bài giảng tuyển dụng và sử dụng nhân lực tr.42,43 “Sử dụng nhân lực là tổng hợp các hoạt động của tổ chức theo suốt cuộc 15 đời sự nghiệp của người lao động tại đơn vị, từ sau khi được lựa chọn đến khi về hưu hay rời khỏi đơn vị nhằm mục đích đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức và nhân viên”. Cũng theo Cấn Hữu Dạn thì sử dụng nhân lực cũng có thể được hiểu là sự đối xử của tổ chức đối với nhân viên và nhà quản lý làm việc cho tổ chức đó.
Sự đối xử còn được thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau.