Tổng quan nghiên cứu

Công tác quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân tại Việt Nam hiện đang được triển khai đồng bộ tại 54 trại giam, 3 cơ sở giáo dục bắt buộc và 3 trường giáo dưỡng trực thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. Trung bình mỗi năm có trên 30.000 người chấp hành xong án phạt tù hoặc được đặc xá trở về với cộng đồng, phần lớn đều đang trong độ tuổi lao động từ 18 đến 60 tuổi. Tại Trại giam Ninh Khánh thuộc tỉnh Ninh Bình, đơn vị đang trực tiếp quản lý 4.493 phạm nhân, gồm 3.727 nam và 766 nữ, trên diện tích đất 339,31 ha. Vấn đề nghiên cứu then chốt bắt nguồn từ thực trạng 79,73% phạm nhân khi vào trại chưa từng qua đào tạo nghề và 45,95% là lao động tự do. Thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp và việc làm ổn định chính là nguyên nhân hàng đầu gia tăng nguy cơ tái phạm tội sau khi mãn hạn tù.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và phân tích toàn diện thực trạng công tác đào tạo dạy nghề cho phạm nhân tại Trại giam Ninh Khánh trong giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở đó, tác giả nhận diện các rào cản nội tại và đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề trong giai đoạn tiếp theo. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc hiện thực hóa mục tiêu giảm tỷ lệ tái phạm xuống dưới 5%, đồng thời phấn đấu nâng tỷ lệ phạm nhân được cấp chứng chỉ nghề chính quy lên trên 80%, tạo sinh kế vững chắc cho người lầm lỗi tái hòa nhập cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết giáo dục cải tạo tội phạm kết hợp lý thuyết vốn nhân lực nhằm khẳng định vai trò của việc nâng cao tay nghề đối với sự thay đổi hành vi và tái hòa nhập xã hội. Mô hình nghiên cứu tiếp cận quá trình đào tạo theo chu trình khép kín gồm bốn giai đoạn: xác định nhu cầu và nghề đào tạo, lập kế hoạch và phê duyệt dự toán, tổ chức triển khai giảng dạy lý thuyết gắn với thực hành, và kiểm tra đánh giá cấp chứng chỉ nghề. Nghiên cứu chuẩn hóa bốn khái niệm nền tảng:

  • Đào tạo nghề nghiệp theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, nhấn mạnh việc trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để người học tự tạo việc làm.
  • Phạm nhân theo Luật Thi hành án hình sự năm 2010, xác định rõ quyền và nghĩa vụ học tập, lao động cải tạo của người chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân.
  • Tái hòa nhập cộng đồng theo Nghị định số 80/2011/NĐ-CP của Chính phủ, quy định các biện pháp hỗ trợ định hướng nghề nghiệp và xúc tiến việc làm sau mãn hạn tù.
  • Cơ chế quản lý tài chính dạy nghề theo Quyết định số 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng vốn đầu tư 446 tỷ đồng cho các đề án tăng cường năng lực giáo dục dạy nghề trong trại giam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo quyết toán tài chính lao động sản xuất giai đoạn 2016 - 2018 của Trại giam Ninh Khánh, các văn bản quy phạm pháp luật và số liệu quản trị phạm nhân của Bộ Công an. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực chứng vào tháng 4/2019 với tổng cỡ mẫu gồm 147 đối tượng. Mẫu khảo sát được phân bổ cụ thể: 11 cán bộ quản lý trại giam, 12 cán bộ trực tiếp giảng dạy, 74 phạm nhân đã và đang tham gia các lớp học nghề, cùng 50 đại diện doanh nghiệp và người sử dụng lao động ngoài xã hội.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để bảo đảm tính đại diện theo độ tuổi, giới tính, mức án và loại ngành nghề. Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh đối chiếu giữa các năm. Việc kết hợp phân tích định tính và định lượng giúp lượng hóa chính xác thực trạng, đồng thời bảo đảm tính khách quan, khoa học trong điều kiện nghiên cứu thực địa tại môi trường giam giữ đặc thù.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, trình độ văn hóa và tay nghề ban đầu của phạm nhân rất thấp. Khảo sát 74 phạm nhân cho thấy 79,73% chưa từng qua đào tạo chuyên môn, 36,49% chưa học hết trung học phổ thông, 22,97% chưa học hết trung học cơ sở và 45,95% làm lao động tự do trước khi phạm tội.

Thứ hai, cơ cấu lực lượng cán bộ chiến sĩ còn mất cân đối giữa công tác quản lý nghiệp vụ và chuyên môn đào tạo. Trong tổng số 858 cán bộ chiến sĩ năm 2018, lực lượng chuyên môn kỹ thuật chỉ có 24 người, chiếm tỷ lệ 2,80%, trong khi cán bộ nghiệp vụ giam giữ chiếm 77,97% với 669 người. Về trình độ chuyên môn, cán bộ có trình độ trung cấp chiếm đa số với 54,90%, trình độ đại học chiếm 24,59% và cao đẳng chiếm 7,69%.

Thứ ba, cơ cấu ngành nghề sản xuất và dạy nghề chuyển dịch tích cực nhưng vẫn mang nặng tính thủ công đơn giản. Doanh thu từ hoạt động lao động, dạy nghề năm 2016 đạt trên 16 tỷ đồng, năm 2017 đạt hơn 14 tỷ đồng và năm 2018 đạt trên 13 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 3 năm đạt 91,65%. Trong cơ cấu thu năm 2018, nhóm ngành thủ công chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất với 43,46%, ngành trồng trọt chiếm 37,38%, dịch vụ chiếm 12,69% và chăn nuôi chiếm 6,48%.

Thứ tư, cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo kỹ thuật cao. Dù đơn vị đã xây dựng 6 trung tâm dạy nghề, 52 dãy nhà giam và trang bị 125 máy vi tính, phần lớn thiết bị thực hành chỉ phục vụ cho các nghề may mặc, gia công lông mi, đan lát và trồng trọt, chưa tiếp cận được với các dây chuyền công nghiệp hiện đại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ yêu cầu nghiêm ngặt về an ninh trật tự, tính kỷ luật tại cơ sở giam giữ và nguồn ngân sách đầu tư còn eo hẹp. Thêm vào đó, có khoảng 60% phạm nhân tại Trại giam Ninh Khánh từng có tiền sử nghiện ma túy ngoài xã hội, dẫn đến tâm lý tự ti, thể lực suy giảm và tiếp thu kỹ thuật chậm.

Khi so sánh với Trại giam Tân Lập tại Phú Thọ, đơn vị bạn đã đào tạo và cấp chứng chỉ nghề xây dựng, cơ khí cho 175 phạm nhân nhờ liên kết chặt chẽ với các trường nghề bên ngoài. Trại giam Quảng Ninh cũng phân luồng hiệu quả cho 1.600 phạm nhân trẻ tuổi học chữ và học nghề may, cơ khí. Ở quy mô quốc tế, Nhà tù Tihar tại Ấn Độ với hơn 11.000 tù nhân đã thương mại hóa thành công các sản phẩm bánh mì, dệt may và thảo mộc thông qua kênh bán hàng trực tuyến riêng. Dữ liệu của Trại giam Ninh Khánh có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu ngành nghề lao động và biểu đồ cột phản ánh sự tương quan giữa trình độ học vấn với khả năng tiếp thu nghề nghiệp, từ đó làm rõ sự cần thiết phải chuẩn hóa giáo trình đào tạo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề: Ban Giám thị trại giam cần phối hợp cùng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm thường niên cho 100% cán bộ giảng dạy, đặt mục tiêu đến năm 2024 nâng tỷ lệ cán bộ chuyên môn kỹ thuật lên mức 8% trên tổng quân số.

Thứ hai, đa dạng hóa ngành nghề và đổi mới chương trình đào tạo: Chuyển đổi mạnh mẽ từ hình thức truyền nghề thủ công sang đào tạo kỹ thuật công nghiệp như sửa chữa xe máy, điện dân dụng, may công nghiệp và tin học ứng dụng. Mục tiêu trong giai đoạn 2023 - 2025 là có trên 80% phạm nhân hoàn thành khóa học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề chính quy theo Thông tư số 40/2015/TT-BLĐTBXH.

Thứ ba, đổi mới mô hình tổ chức các trung tâm dạy nghề: Nghiên cứu cơ chế quản lý linh hoạt tại 6 trung tâm dạy nghề hiện có, cho phép người chấp hành xong án phạt tù không có nơi nương tựa được tự nguyện ở lại làm việc, ký hợp đồng lao động và nhận tiền lương theo quy định pháp luật trong thời gian tìm kiếm việc làm mới.

Thứ tư, huy động nguồn lực tài chính đầu tư trang thiết bị: Trích tối thiểu 25% nguồn chênh lệch thu chi từ hoạt động lao động sản xuất, tương đương khoảng 1,8 tỷ đồng mỗi năm, để nâng cấp nhà xưởng thực hành. Đồng thời, trại giam cần chủ động liên kết với hơn 50 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình để tận dụng nguồn máy móc, công nghệ chuyển giao.

Thứ năm, tăng cường kết nối thị trường lao động và tư vấn việc làm: Đội Giáo dục và Hồ sơ phối hợp với các đoàn thể địa phương tổ chức ngày hội tư vấn việc làm định kỳ vào quý IV hàng năm, cam kết phấn đấu đạt tỷ lệ trên 70% phạm nhân được kết nối việc làm ổn định ngay sau khi xuất trại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Ban Giám thị và cán bộ quản giáo tại 54 trại giam trên toàn quốc. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng quy trình phân loại phạm nhân, lập kế hoạch đào tạo nghề dưới 3 tháng và quản lý an toàn xưởng thực hành.

Nhóm 2: Các chuyên gia hoạch định chính sách tại Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm giá trị giúp hoàn thiện các thông tư hướng dẫn về chế độ lao động, định mức kinh phí đào tạo nghề và chính sách ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tiếp nhận lao động hoàn lương.

Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Tội phạm học và Xã hội học. Công trình mang lại khung lý thuyết chuẩn xác cùng bộ dữ liệu khảo sát 147 mẫu, phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng.

Nhóm 4: Các doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và tổ chức phi chính phủ. Nhóm này có thể tham khảo mô hình liên kết gia công, mở rộng xưởng sản xuất trong trại giam và xây dựng quỹ tín dụng hỗ trợ sinh kế cho người chấp hành xong án phạt tù.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Rào cản lớn nhất đối với việc tiếp thu kiến thức nghề của phạm nhân tại Trại giam Ninh Khánh là gì? Trả lời: Rào cản lớn nhất nằm ở chất lượng đầu vào khi có tới 79,73% phạm nhân chưa qua đào tạo nghề và khoảng 60% từng nghiện ma túy. Yếu tố này làm suy giảm thể lực và gây tâm lý bất an, đòi hỏi quá trình đào tạo phải kết hợp chặt chẽ giữa trị liệu tâm lý, giáo dục công dân và truyền dạy kỹ năng thực hành đơn giản.

Câu hỏi 2: Chương trình dạy nghề cho phạm nhân hiện nay được thực hiện theo khung thời gian nào? Trả lời: Căn cứ theo Thông tư số 152/2016/TT-BTC và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, các khóa học tại trại giam chủ yếu áp dụng chương trình đào tạo thường xuyên dưới 3 tháng hoặc trình độ sơ cấp. Thời gian học lý thuyết và thực hành được bố trí linh hoạt và được tính trừ vào thời gian lao động cải tạo của phạm nhân.

Câu hỏi 3: Hoạt động liên kết với các doanh nghiệp bên ngoài mang lại lợi ích gì cho công tác cải tạo? Trả lời: Việc liên kết với hơn 50 doanh nghiệp giúp trại giam giải quyết đầu ra cho sản phẩm thủ công, tạo ra nguồn thu hơn 13 tỷ đồng mỗi năm. Quan trọng hơn, sự hợp tác này giúp phạm nhân rèn luyện tác phong lao động công nghiệp và nâng cao cơ hội tìm kiếm việc làm sau khi chấp hành xong bản án.

Câu hỏi 4: Bài học từ Nhà tù Tihar của Ấn Độ có thể áp dụng ra sao tại Trại giam Ninh Khánh? Trả lời: Mô hình quản lý tại Nhà tù Tihar với 11.000 phạm nhân chứng minh tính hiệu quả của việc gắn dạy nghề với thị trường tiêu thụ thực tế. Trại giam Ninh Khánh có thể học hỏi cách xây dựng thương hiệu sản phẩm chất lượng cao và thành lập quỹ hỗ trợ học nghề từ nguồn lợi nhuận thu được.

Câu hỏi 5: Cần điều kiện gì để mô hình trung tâm dạy nghề trong trại giam hoạt động hiệu quả hơn? Trả lời: Đơn vị cần hoàn thiện cơ chế pháp lý cho phép người chấp hành xong án phạt tù ký hợp đồng lao động có hưởng lương tại xưởng sản xuất. Đồng thời, cần nâng tỷ lệ cán bộ kỹ thuật hiện chỉ chiếm 2,80% lên mức tối thiểu 8% để đáp ứng yêu cầu giảng dạy chuyên sâu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề trong môi trường thi hành án hình sự dựa trên 6 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt.
  • Phản ánh trung thực bức tranh toàn cảnh tại Trại giam Ninh Khánh qua bộ dữ liệu 3 năm từ 2016 đến 2018 trên quy mô quản lý 4.493 phạm nhân và 147 đối tượng khảo sát.
  • Nhận diện chính xác các rào cản cốt lõi, bao gồm tỷ lệ phạm nhân chưa qua đào tạo cao đạt 79,73% và nguồn nhân lực cán bộ kỹ thuật mỏng chỉ chiếm 2,80%.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với lộ trình triển khai đến năm 2025, tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ, đổi mới giáo trình và xã hội hóa nguồn lực.
  • Kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo bước đột phá trong công tác hướng nghiệp, góp phần xây dựng xã hội an toàn, nhân văn và phát triển bền vững.