Chương 1: Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng sử dụng hiệu quả tài sản của Công ty TNHH Đầu tư xuất nhập khẩu DMC Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH Đầu tư xuất nhập khẩu DMC Việt Nam. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của dooanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp để tồn tại và phát triển luôn cần có những tài sản cũng như nguồn vốn để đảm bảo cho sản xuất, kinh doanh. Tài sản của doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức, trạng thái khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay khái niệm tài sản doanh nghiệp thường bị nhầm lẫn với khái niệm nguồn vốn của doanh nghiệp.
“Tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tài sản là 1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Từ đó, có thể hiểu tài sản doanh nghiệp là những vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, hoặc những tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng.
Dưới góc độ kinh tế thì Tài sản là tất cả những nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát, nắm giữ và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ tài sản đó. Tài sản của doanh nghiệp đảm bảo hai tiêu chí, đó chính là thuộc sở hữu của doanh nghiệp và tài sản đó nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp thì một trong những loại tài sản hình thành nên khối tài sản của doanh nghiệp đó chính là tài sản góp vốn của các thành viên. Theo đó, tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ (gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ),.
Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn. Tài sản của doanh nghiệp có thể bao gồm: tiền mặt, chứng khoán, trụ sở, nhà xưởng, công trình xây dựng, máy móc thiết bị, cửa hàng, kho tàng, hàng hoá, nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, tên thương mại, biển hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, mạng lưới khách hàng. Căn cứ vào hình thái vật chất của tài sản mà người ta chia tài sản của doanh nghiệp thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Căn cứ vào vai trò của tài sản đối với quá trình kinh doanh của doanh nghiệp mà người ta chia thành tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản lưu thông.
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn đóng góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp và do doanh nghiệp tự tích luỹ được từ hoạt động kinh doanh. 1 Thư viện ĐH Thăng Long Tài sản doanh nghiệp được thể hiện dưới dạng vật chất (tài sản hữu hình) như là các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hàng hóa, ô tô,… hoặc không thể hiện dưới dạng vật chất (tài sản vô hình) như là quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu,… Nắm rõ tài sản hữu hình, vô hình là gì trong hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh giúp cho bạn có cái nhìn tổng quan về tài sản từ đó nâng cao cách thức sử dụng, quản lý tài sản. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Công tác quản lí tài sản trong doanh nghiệp là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc quyết định đến mức độ tăng trưởng hay suy thoái của doanh nghiệp. Do vậy, để có thể thực hiện quản lí một cách hiệu quả nhất, cần phải phân biệt được các loại tài sản.
Từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp với từng tính chất của tài sản. Căn cứ theo nguồn hình thành Tài sản cố định Là tất cà những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời gian sử dụng, luân chuyên, thu hồi lâu dài trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh lớn hơn hoặc bằng 1 năm). Những tài sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc về tài sản cố dịnh. Tài sản cổ định được biểu hiện dưới hai hình thái: Hình thái vật chất: Đó là những tư liệu lao động chủ yếu như máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ, nhà xưởng.
Hình thái tiền tệ: Khi giá trị của tài sản cố định giảm dần thông qua mức khẩu hao thì giá trị đó sẽ chuyển dần thành giá trị tiền tệ khiến cho giá trị tiền tệ liên tục tăng lên cho đến khi tài sản cổ dịnh khấu hao hết giá trị. Tài sản lưu động Là những đối tượng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh và có thể trở lại hình dáng ban đầu sau mỗi vòng luân chuyển của hàng hóa. Tài sản lưu động luân chuyển một lần vào giá trị của sản phẩm và nằm trong các khâu của quá trình kinh doanh như: Dự trữ vật tư hàng hóa phục vụ sản xuất, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, sản phẩm chưa tiêu thụ. Tài sản lưu động thường được chia thành hai loại như sau: Tài sản lưu động trong sản xuất: Gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biển và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định.
Thuộc về tài sản lưu động sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phâm dờ dang, công cụ lao động nhỏ. 2 Tài sản hưu động trong lưu thông: Sản phẩm hàng hóa chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán. Đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau thì tỷ trọng cũng sẽ khác nhau. Nếu trong doanh nghiệp thương mại, tỷ trọng tài sản lưu động chiểm chủ yếu trong tổng tài sản thì đối với doanh nghiệp sản xuất, tỷ trọng tải sản cố định lại thường chiếm chủ yếu.
Ngoài ra, tài sản cố định có đặc điểm luân chuyển giá trị chậm hơn so với tài sản lưu động nhiều lần. Việc phân chia và nhận biết những đặc diểm này giúp các doanh nghiệp có thể lựa chọn sử dụng cơ cấu tài sản phù hợp cũng như có những giải pháp kinh doanh hợp lý trong các hoạt động kinh doanh sản xuất trên thị trường. Căn cứ theo hình thái biểu hiện Tài sản hữu hình: Là những tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, xí nghiệp., mang thuộc tính vật chất, ví dụ như: Nhà xưởng, máy móc, dụng cụ, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, hay những tài sản trong xây dựng phát triên, có khả năng mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua sản phẩm được sản xuất ra. Tài sản hữu hình được định giá qua nguyên giá và giá trị hao mòn trong thời điểm hoạt động.
Tài sản vô hình: Là những tài sản tự biểu lộ, thể hiện thông qua những đặc điểm kinh tế của chúng. Những tài sản này không có hình thái vật chất nhưng có thể tạo ra được những lợi thế và quyền hạn đề mang lại giá trị kinh tế cho người sở hữu ví dụ như: Bản quyền, bằng sáng chế, quyền sử dụng đất. Căn cứ theo hình thức sở hữu Tài sản tự có: Là những tài sản được mua sắm, sản xuất bằng nguồn vốn của chủ sở hữu, vốn vay hoặc các nguồn vốn khác thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Tài sản thuê ngoài: Là tài sản được doanh nghiệp thuê từ các tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị hay cá nhân để phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất dịnh được qui định trong hợp đồng cho thuê.
Tài sản thuê ngoài được thế hiện dưới hai hình thức Tài sản thuê tài chính: Là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyển sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn cho thuê. Tài sản thuê hoạt động: Là thuê tài sản chứ không phải là thuê tài chính, đồng nghĩa với việc không có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích kinh tế gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê tài sản. 3 Thư viện ĐH Thăng Long 1.
Căn cứ theo thời gian Đây là cách phân loại phố biến và được sử dụng nhiều nhất, được thế hiện rất rõ trong bảng cần đổi kế toán của các doanh nghiệp. Đổi với cách phân loại này, khóa luận sẽ đi sáu phần tích và tài sản nhìn chung sẽ được phần loại thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong 1 kỳ kinh doanh hoặc trong 1 năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới dạng hiện vật như tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), hay dưới dạng giá trị như các khoản đầu tư ngắn hạn, khoản nợ phải thu.
Đặc điểm của tài sản ngắn hạn: Thứ nhất: Trong quá trinh hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn sẽ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, tài sản ngắn hạn sẽ chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm theo chu kì sản xuất, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện, thành phẩm được tạo ra thì tài sản ngắn hạn sẽ trở lại với hình thái ban đầu của minh đó là tiền tệ. Đây cũng chính là đặc điểm khác biệt lớn nhất giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dải hạn. Thứ hai: Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, sự vận động của tài sản ngắn hạn được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động.