Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Tập đoàn KIDO giai đoạn 2021-2023. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Tập đoàn KIDO. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản trong doanh nghiệp Khái niệm về tài sản là một khái niệm quen thuộc, rộng lớn và đa chiều, tài sản có thể có hình thái vật lý hoặc vô hình và được phân loại dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, tài sản trong doanh nghiệp không chỉ là những giá trị vật chất mà còn bao gồm những yếu tố vô hình và các quyền lợi tài chính đóng góp vào duy trì sự phát triển và thành công của doanh nghiệp. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “Tài sản là thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước, có thể dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu, lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai, một thực thể hợp pháp kiểm soát, thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên”.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế: “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát là kết quả của những hoạt động trong quá khứ mà từ đó một số lợi ích kinh tế trong tương lai có thể dự kiến trước một cách hợp lý”. (Nguồn: https ://www .org) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 4 ban hành kèm theo quyết định số 149 ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính: “Tài sản là một nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”.vn) Theo điều 105, chương VII, Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, ngày 24/11/2015 của Quốc hội: “Tài sản là toàn bộ những gì thuộc quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức, nhà nước, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.May trong cuốn sách "Những nguyên tắc kế toán": “Tài sản không chỉ đơn thuần là các đồ vật hoặc hiện vật mà còn bao gồm những quyền lợi và khả năng tạo ra giá trị trong tương lai, và việc quản lý tài sản hiệu quả là một phần quan trọng của kế toán và quản trị tài chính” [5,trang 158].
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu rằng, tài sản của doanh nghiệp là sự tổng hợp giữa tiền bạc, tài sản vật chất, giấy tờ có giá trị và những quyền lợi tài sản mà doanh nghiệp sở hữu. Đây là những nguồn lực mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng để thúc đẩy các hoạt động kinh doanh. Ngược lại, tài sản của doanh nghiệp không chỉ là 1 những yếu tố vật chất mà còn bao gồm mọi nguồn lực có giá trị mà doanh nghiệp sở hữu và kiểm soát, giữ trong tay và kỳ vọng tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai. Điều quan trọng là tài sản của doanh nghiệp phải đáp ứng đồng thời hai yếu tố chính đó là: thuộc sở hữu của doanh nghiệp và được sử dụng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc điểm tài sản trong doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp bao gồm một loạt các nguồn giá trị được sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh và tạo ra thu nhập. Đặc điểm của tài sản doanh nghiệp có những khía cạnh đặc trưng, phản ánh tính chất và quan hệ với hoạt động kinh doanh. Dưới đây là một số đặc điểm quan trọng của tài sản doanh nghiệp: Tính thanh khoản: Tài sản doanh nghiệp có tính thanh khoản cao và thấp. Tiền mặt, các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn có tính thanh khoản cao, giúp doanh nghiệp chi trả các khoản nợ và chi phí ngắn hạn.
Trong khi đó, tài sản cố định như máy móc và bất động sản thường có tính thanh khoản thấp hơn. Mục đích sử dụng: Tài sản doanh nghiệp được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: hỗ trợ quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ, và thực hiện các hoạt động kinh doanh, tăng trưởng và mở rộng, quản lý và điều hành. Điều này bao gồm tài sản cố định như máy móc, nhà xưởng và tài sản lưu động như hàng tồn kho và các khoản phải thu từ khách hàng. Tính ngắn hạn và dài hạn: Tài sản doanh nghiệp được phân loại thành tài sản ngắn hạn và dài hạn dựa trên thời hạn sử dụng.
Tài sản ngắn hạn bao gồm hàng tồn kho, các khoản phải thu và các khoản đầu tư ngắn hạn. Tài sản dài hạn thường là những tài sản có thời hạn sử dụng lâu dài như bất động sản và máy móc. Tính rủi ro và an toàn: Một số tài sản doanh nghiệp có tính rủi ro cao, chẳng hạn như cổ phiếu đầu tư hay các khoản đầu tư ngắn hạn có thể biến động giá trị. Ngược lại, tiền mặt và các khoản đầu tư an toàn như trái phiếu có tính ổn định hơn.
Tài sản doanh nghiệp có thể được mua bằng vốn tự có của doanh nghiệp hoặc thông qua vay nợ từ nguồn bên ngoài. Cấu trúc tài chính là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, phản ánh mức độ sử dụng vốn tự có và nợ để mua sắm tài sản. Cấu trúc tài chính không chỉ ảnh hưởng đến khả năng quản lý và phát triển tài sản mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính và khả năng ứng phó với các biến động tài chính trong tương lai. Giá trị của tài sản doanh nghiệp có thể được đánh giá bằng giá trị thị trường hoặc giá trị sử dụng.
Cả hai phương pháp này đều cung cấp cái nhìn quan trọng về giá trị tài sản. Sự tăng giảm giá trị của tài sản cũng phản ánh tình trạng kinh tế và thị trường nơi doanh nghiệp hoạt động, điều này cho thấy tầm quan trọng của việc hiểu và quản lý các 2 yếu tố ảnh hưởng đến giá trị tài sản để duy trì và tối ưu hóa lợi ích tài chính của doanh nghiệp. Phân loại tài sản Tùy theo yêu cầu quản lý khác nhau của từng doanh nghiệp mà tài sản có thể được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu bài khóa luận, tài sản sẽ được phân loại theo tính chất luân chuyển.
Qua tiêu chí này tài sản của doanh nghiệp được chia thành tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH). Việc phân loại như trên thấy rõ tốc độ luận chuyển của các loại tài sản trong doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là nhóm tài sản doanh nghiệp sở hữu và sử dụng trong thời kỳ ngắn hạn (trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp) Đây là các nguồn giá trị có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt hoặc được tiêu thụ trong chu kỳ ngắn hạn của doanh nghiệp. TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động kinh doanh hàng ngày và đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn như chi trả cho các chi phí phát sinh.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có kỳ hạn thu hồi dưới một năm hoặc tròn một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu) hoặc chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu) mua giá thấp bán giá cao để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn như là: Phải thu khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chát thương mại phát sinh từ việc mua bán, hình thức này thu hút được nhiều khách hàng cho doanh nghiệp nhưng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh toán.
Phải thu nội bộ gồm các khoản giữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc. Phải thu khác là các khoản không có tính thương mại, không có giao dịch mua bán: các khoản phải thu tạo ra từ doanh thu hoạt động tài chính như: Khoản phải thu lãi cho vay, tiền gửi, cổ tức, lợi nhuận không chia. Các khoản phải thu không mang tính thương mại như cho mượn tài sản, phải thu về tiền phạt, bồi thường. Các khoản phải thu ngắn hạn: Là những khoản đầu tư ra bên ngoài trong thời gian ngắn nhằm mục đích sinh lời, thời gian thu hồi nhanh thường trong một chu kỳ kinh doanh, bao gồm các khoản như: đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn 3 khác, dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn - được dùng để bù đắp tổn thất thực tế của các khoản đầu tư dài hạn do các nguyên nhân như nhà đầu tư phá sản, thiên tai, lũ lụt,.
Hàng tồn kho: Là tài sản quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất và bán hàng mà không gián đoạn, và sẽ bao gồm: Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: Là các vật tư dự trữ như: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh. Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: Bao gồm các sản phẩm dở dang (sản phẩm đang chế tạo) Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: Là thành phẩm, là những giá trị của các sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và được nhập kho. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các loại khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả trước ngắn hạn, chi phí chờ kết chuyển, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, thuế và các khoản phải thu Nhà Nước, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ… 1. Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là những tài sản thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng trên 1 năm, thời gian sử dụng thường phụ thuộc và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.