CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản và tài sản ngắn hạn Bộ Tài chính Việt Nam quy định: Tài sản là những nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Các nguồn lực có thể biểu hiện dưới hình thái hữu hình như nhà cửa, máy móc, thiết bị hoặc dưới hình thái vô hình như bản quyền, bằng phát minh sáng chế, quyền tác giả…các tài sản này thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của doanh nghiệp theo các hợp đồng kinh tế.
Hiện nay tài sản được phân biệt dưới nhiều hình thức khác nhau, theo thời gian sử dụng thì tài sản được phân chia tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Định nghĩa về tài sản ngắn hạn được quy định trong các văn bản pháp luật. Cụ thể, căn cứ vào Điều 112 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thì tài sản ngắn hạn là sự phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Giáo trình Quản trị Tài chính doanh nghiệp của PGS.
Lưu Thị Hương thì định nghĩa: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là tất cả những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luận chuyển và thu hồi vốn trong 1 năm (nếu chu kỳ kinh doanh <1 năm) hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳ kinh doanh >1 năm).” Từ những tổng kết trên thì có thể hiểu tài sản ngắn hạn (hay Tài sản lưu động) là: Những tài sản tồn tại được sử dụng trong khoảng thời gian ngắn và đại diện cho tất cả tài sản của doanh nghiệp sẽ sử dụng, phân phối và thu hồi trong một năm hoặc trong một chu kỳ hoạt động. Tài sản ngắn hạn sẽ bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Tài sản ngắn hạn hay tài sản lưu động giúp doanh nghiệp trang trải các chi phí liên quan đến việc vận hành sản xuất kinh doanh. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dữ trữ - sản xuất – lưu thông, quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và lưu chuyển của TSNH.
Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, TSNH lại thay đổi thái độ hình thái biểu hiện. TSNH chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên 1 Thư viện ĐH Thăng Long hình thái vật chất ban đầu, giá trị của tài sản được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì TSNH hoàn thành một vòng chu chuyển. TSNH được phân bố đủ trong các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
TSNH có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp mà không chịu chi phí lớn. Khác với đầu tư cho TSDH, các khoản đầu tư cho TSNH thường có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm nào mà không phải chịu chi phí tốn kém do TSNH phải đáp ứng nhanh với sự thay đổi của doanh thu và quy mô sản xuất. Bên cạnh đó, TSNH chịu sự lệ thuộc nhiều vào những dao động mang tính thời vụ và chu kỳ kinh doanh. Tóm lại, TSNH trong doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau: - TSNH có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- TSNH là một bộ phận của vốn sản xuất, vận động và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh. - TSNH dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên vận động rất phức tạp và khó quản lý. Phân loại tài sản ngắn hạn Về mặt bản chất, TSNH bao gồm các tài sản dự kiến được chuyển đổi thành tiền trong vòng 1 năm hoặc 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSNH trong doanh nghiệp thường được phân loại theo 2 cách chính: phân loại theo hình thái biểu hiện hoặc phân loại theo tính chất luân chuyển của tài sản.
Phân loại TSNH theo hình thái biểu hiện: - Tiền và các khoản tương đương tiền: Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Tiền gửi ngân hàng là toàn bộ số tiền doanh nghiệp gửi tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước và các tổ chức tài chính. Tiền đang chuyển là tiền doanh nghiệp đã gửi vào ngân hàng, kho bạc nhà nước, các tổ chức tài chính nhưng chưa nhận được giấy báo có. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi đễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro.
- Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn…Đây là TSNH có tính thanh khoản 2 cao, có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. - Các khoản phải thu ngắn hạn: là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ. Các khoản này bao gồm: phải thu khách hàng, ứng trước cho người bán, phải thu khác… Hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau.
Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm và chính sách bán chịu của doanh nghiệp. Chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất đến khoản phải thu vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản phải thu và bao giờ cũng đi kèm theo chi phí nên doanh nghiệp cần xem xét cẩn thận để có chính sách bán chịu phù hợp. - Dự trữ: bao gồm hàng mua về để bán, thành phẩm lưu kho, thành phẩm gửi đi bán, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ lưu kho… Dự trữ thường chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, việc thiếu hụt dữ trữ sẽ ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu lượng dữ trữ dư thừa quá nhiều cũng khiến doanh nghiệp đối mặt với những khó khăn: chi phí lưu kho tăng, dự trữ bị hư hỏng… - Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước và thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn… Phân loại TSNH theo lĩnh vực và thời gian luân chuyển - Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán.
- Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất… - Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn có trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng. Cách phân loại tài sản ngắn hạn theo vai trò với quá trình sản xuất kinh doanh giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố gây ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để có thể đưa ra các biện pháp quản lý thích hợp để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn một cách cao nhất. 3 Thư viện ĐH Thăng Long Kết luận: bài khóa luận dùng cách phân loại tài sản ngắn hạn theo hình thái biểu hiện để phân tích. Vai trò của tài sản ngắn hạn Doanh nghiệp muốn hoạt động được trong nền kinh tế thị trường thì cần phải có vốn.
Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể kinh doanh, sản xuất thuận lợi. Tài sản ngắn hạn thông thường chiếm 25 - 50% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được vận hành một cách thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn.
Trong sản xuất, nó giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phần đáp ứng đơn đặt hàng của khách hàng và nhu cầu tiêu thụ nhịp nhàng. Tài sản ngắn hạn còn phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Thông qua sự vận động của tài sản ngắn hạn mà chúng ta có thể đánh giá được tình hình hàng tồn kho, tiêu thụ và tình hình sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp.
Chính vì vậy doanh nghiệp phải luôn dự trữ một khoản tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, giúp cho doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến thua lỗ và chặn nguy cơ phá sản của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tài sản ngắn hạn khi duy trì ở một mức độ hợp lý giúp đảm bảo khả năng thanh toán, đem lại cho doanh nghiệp những lợi thế như: được hưởng chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán… Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một khoản chi phí đồng thời làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ cho các giao dịch có độ trễ về thời gian. Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, marketing và thu tiền.