CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TSCĐ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về TSCĐ trong Doanh nghiệp Luận văn thạc sĩ Kinh tế 1.Khái niệm và phân loại TSCĐ 1.Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có ba yếu tố cơ bản sau: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Bộ phận tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài (như nhà cửa, vật kiến trúc, nhà xưởng, văn phòng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải…) được gọi là những TSCĐ. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu mà nó có đặc điểm cơ bản là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất. Nói một cách khác tài sản cố định là những tư liệu lao động có giá trị tương đối lớn, có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo cách hiểu trên thì TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hay đây là bộ phận quan trọng biểu hiện quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp mà biểu hiện của nó trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận chuyển là các phương tiện vận tải, bến bãi, nhà xưởng. Trong thực tế tùy theo mỗi quốc gia mà TSCĐ được quy định theo những tiêu chuẩn khác nhau, thậm chí ngay trong cả một quốc gia ở những thời kỳ khác nhau mà cũng có thể đưa ra các tiêu chuẩn khác nhau về TSCĐ, mục đích là để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế trong các thời kỳ đó. 7 Ở Việt nam hiện nay, theo thông tư số 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 20/10/2009: Tư liệu lao động nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Luận văn thạc sĩ Kinh tế + Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; + Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 10.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên. Còn theo thông tư số 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 25/04/2013 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2013 và áp dụng từ năm tài chính năm 2013 quy định nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.
Những tài sản không hội đủ các tiêu chuẩn trên được coi là tài sản lưu động của doanh nghiệp, bao gồm những tài sản là đối tượng lao động với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và những tư liệu lao động có giá trị nhỏ hoặc thời gian sử dụng ngắn. Việc nhận biết và phân biệt TSCĐ với tài sản lưu động của Doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong công tác nghiên cứu mà còn giúp cho Doanh nghiệp quản lý, sử dụng tài sản một cách tốt nhất. Do đó ta cần biết TSCĐ có những đặc trưng gì để phân biệt được TSCĐ và tài sản lưu động. Phân loại TSCĐ Nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu và công tác quản lý của từng Doanh nghiệp với những đặc thù khác nhau, mà phân loại TSCĐ thành những tiêu thức khác nhau.
Phân loại TSCĐ được hiểu là việc phân chia tổng thể TSCĐ đang thuộc quyền quản lý, theo dõi, sử dụng của doanh nghiệp thành những nhóm, loại nhất định theo những tiêu thức cụ thể nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu và quản lý của từng Doanh nghiệp. Sau đây là một số cách phân loại thông dụng: Căn cứ vào hình thái biểu hiện 8 TSCĐ ở hình thái biểu hiện có thể phân làm 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. Theo theo thông tư số 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 20/10/2009 thì TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình được quy định như sau: TSCĐ hữu hình: Luận văn thạc sĩ Kinh tế Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định: a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 10.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên. Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.
Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình. Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình TSCĐ vô hình 9 Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn của TSCĐ, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình. Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn của TSCĐ thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của Luận văn thạc sĩ Kinh tế doanh nghiệp. Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn đồng thời bảy điều kiện sau: a) Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán; b) Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán; c) Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; d) Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai; đ) Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó; e) Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó; g) Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình.
Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tối đa không quá 3 năm. Việc phân loại này giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp thấy được cơ cấu vốn đầu tư vào tài sản cố định theo hình thái biểu hiện, từ đó có thể đưa ra các quyết 10 định đầu tư, khai thác sử dụng TSCĐ hay điều chỉnh cơ cấu này sao cho phù hợp với tình hình thực tế và có hiệu quả nhất. Căn cứ vào mục đích sử dụng Căm cứ vào mục đích sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 3 loại: Luận văn thạc sĩ Kinh tế - TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý, sử dụng cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Gồm tất cả các TSCĐ được dùng phục vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở các bộ phận trực tiếp sản xuất kinh doanh, bộ phận quản lý doanh nghiệp như kho tàng, cửa hàng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, giá trị quyền sử dụng đất… - TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng trong doanh nghiệp.
Gồm các TSCĐ được phép sử dụng để phục vụ đời sống văn hoá, nhà truyền thống, thư viện, nhà trẻ…, hoặc các TSCĐ phục vụ an ninh quốc phòng trong toàn doanh nghiệp. - TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ là những TSCĐ doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cất giữ hộ Nhà nước theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Với việc phân loại này sẽ giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp biết được kết cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng đồng thời sẽ giúp quản lý và phân tích đúng đắn tình hình, hiệu quả của việc sử dụng TSCĐ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, làm rõ hiệu quả thực sự do tài sản cố định đã được sử dụng trong quá trình kinh doanh so sánh với tổng giá trị tài sản cố định hiện có, từ đó có kế hạch khai thác, sử dụng TSCĐ một cách hiệu quả nhất. Căn cứ vào công dụng kinh tế Tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành các loại sau: - Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, sân 11 bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng.
- Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây truyền công nghệ, những máy móc Luận văn thạc sĩ Kinh tế đơn lẻ.