Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài chính công ty cổ phần Công ty cổ phần là một trong các loại hình doanh nghiệp, vì vậy có thể nói phân tích tài chính Công ty cổ phần về nguyên tắc là phân tích tài chính doanh nghiệp. Khái quát về Công ty cổ phần (Joint - stock Company) 1. Khái niệm doanh nghiệp Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau là cổ phần và được phát hành ra ngoài thị trường nhắm huy động vốn tham gia đầu tư từ mọi thành phần kinh tế.
Người sở hữu cổ phần được gọi là các cổ đông Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2015: Điều 4, khoản 7: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Điều 1: Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên hoặc hai thành viên trở lên), Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Đặc điểm chính của Công ty cổ phần * Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. * Cổ đông là chủ sở hữu của các Công ty cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 116 như 6 Luan van “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác” và khoản 3 Điều 119 của Luật Doanh nghiệp như “Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.
Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó”. * Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; * Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn: Trong các loại hình doanh nghiệp chỉ có Công ty cổ phần là được ph p huy động vốn bằng cách phát hành cả cổ phiếu và trái phiếu, Công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được ph p phát hành trái phiếu. Công ty cổ phần có khả năng huy động được một lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư khi cần đầu tư mở rộng sản xuất, hiện đại hóa trang thiết bị, cải tiến công nghệ… từ đó nâng cao sức cạnh tranh của Công ty trên thị trường, đây là ưu điểm nổi bật của Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường. * Bản Điều lệ Công ty là cơ sở pháp lý về tổ chức và quản lý hoạt động của Công ty cổ phần.
Điều lệ được xây dựng trên các quy định chung của Luật Doanh nghiệp và một số quy định cụ thể của Đại hội đồng cổ đông. Điều lệ có thể được sửa đổi, bổ sung trong quá trình hoạt động của Công ty khi luật pháp thay đổi và khi Đại hội đồng cổ đông thông qua. * Các cổ đông có thể trực tiếp tham gia quản lý Công ty nếu được bầu vào Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc hoặc Ban Kiểm soát, hoặc đề cử người tham gia vào các cơ cấu này để quản lý Công ty. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần gồm có: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất và Giám đốc (Tổng Giám đốc) là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của Công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản 7 Luan van trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao; đối với Công ty cổ phần có trên 11 cổ đông có Ban Kiểm soát.
Quyền hạn, trách nhiệm của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và ban kiểm soát được quy định cụ thể tại Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13và Điều lệ của Công ty cổ phần đó. ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG BAN KIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ SOÁT TỔNG GIÁM ĐỐC CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG Sơ đồ 1. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần 1.Các loại hình Công ty cổ phần Công ty cổ phần nội bộ (Private Company): Là Công ty cổ phần chỉ phát hành cổ phiếu trong số những người sáng lập ra Công ty, những cán bộ công nhân viên trong Công ty và các pháp nhân là những đơn vị trực thuộc những đơn vị trong cùng tập đoàn của đơn vị sáng lập.
Đây là loại cổ phiếu ký danh không được chuyển nhượng hoặc chỉ được chuyển nhượng theo một số điều kiện nhất định trong nội bộ Công ty. Việc tăng vốn của Công ty rất hạn chế chỉ được vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc tích lũy từ trong nội bộ Công ty. Công ty cổ phần đại chúng (Public Company): Là Công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, ngoài những đối tượng nội bộ như Công ty cổ phần nội bộ. Phần lớn những Công ty cổ phần mới thành lập đã bắt đầu như những Công ty cổ phần nội bộ.
Đến khi Công ty 8 Luan van đã phát triển, hội đủ điều kiện thì có thể phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, trở thành một Công ty cổ phần đại chúng. Đợt phát hành đầu tiên cho công chúng gọi là Initial Public Offering - IPO. Theo quy định của luật chứng khoán Việt Nam Công ty đại chúng là Công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây: - Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng. - Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán.
- Công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng trở lên. Việc phát triển thành Công ty cổ phần đại chúng chắc chắn sẽ mang lại một số bất lợi x t trên quan điểm của nhà quản lý và các cổ đông lớn. Khi đó, Công ty phải chịu sự giám sát của xã hội, có nghĩa vụ phải minh bạch toàn bộ thông tin về Công ty. Ngoài ra, việc phát hành ra công chúng d n đến thay đổi trong cơ cấu cổ đông, có thể đe dọa quyền kiểm soát của các cổ đông lớn.
Tuy nhiên, một khi đã trở thành Công ty cổ phần đại chúng, tên tuổi Công ty theo đó cũng được quan tâm và theo dõi bởi công chúng. Đây vừa là áp lực đối với ban lãnh đạo Công ty vừa là động lực thúc đ y Công ty hoạt động ngày càng hiệu quả hơn; đồng thời sự tin tưởng nơi công chúng đầu tư sẽ là tấm v bảo đảm thành công cho những đợt huy động vốn qua phát hành cổ phiếu sau này. Công ty cổ phần niêm yết (Listed Company): Trong số các công ty cổ phần đại chúng, chỉ có một số Công ty được sở giao dịch chứng khoán chọn lọc theo những tiêu chu n nhất định để niêm yết trên sở. Các công ty cổ phần đại chúng tiếp tục con đường phấn đấu của mình để có đủ điều kiện để có thể niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán sẽ trở thành Công ty niêm yết.
Hàng hóa chứng khoán của họ sẽ được giao dịch trên các thị trường chứng khoán tập trung, họ trở thành những Công ty cổ phần hàng đầu của quốc gia, có uy tín, tiếng tăm và được hưởng những điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và huy động vốn. Công ty cổ phần là một loại hình tổ chức kinh doanh phù hợp với quy mô sản xuất lớn, thích ứng được những đòi hỏi của nền sản xuất xã hội hóa cao và sự phát 9 Luan van triển của nền kinh tế hiện đại. Hiện nay, Công ty cổ phần là mô hình phổ biến trên thế giới, nhất là ở các nước có nền công nghiệp cao. Tài chính Công ty cổ phần 1.
Tài chính doanh nghiệp Khái niệm Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế quốc dân, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước; quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính tiền tệ; quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác như thị trường hàng hóa - dịch vụ, thị trường sức lao động; quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp.
Doanh nghiệp luôn luôn phải xem x t, phân tích, điều hòa các mối quan hệ đó trong quá trình thực hiện và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Cơ sở tài chính doanh nghiệp và các dòng tiền Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có một lượng tài sản nhất định hay vốn đầu tư ban đầu để mua hàng hóa dịch vụ hay yếu tố sản xuất phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Qua quá trình sản xuất, chế biến, các yếu tố đầu vào được kết hợp với nhau tạo nên các sản ph m đầu ra có thể phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, cũng có thể sử dụng cho quá trình sản xuất – kinh doanh khác. Như vậy, trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp đã chuyển hóa các hàng hóa dịch vụ đầu vào thành các hàng hóa dịch vụ đầu ra để trao đổi (bán).