CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề quan trọng về lý luận hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, do đó cần phải hiểu biết rõ về đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn với hiệu quả phát triển nông nghiệp. Cụ thể, với các vấn đề lớn cần nghiên cứu giải đáp rõ ràng đó là đất nông nghiệp được quan niệm thế nào? Nội hàm của hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là gì? Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có quan hệ thế như thế nào với hiệu quả phát triển nông nghiệp? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp? Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bằng những chỉ tiêu gì?. Căn cứ vào yêu cầu đó, tác giả tiến hành tổng quan những nội dung đã được các học giả trong và ngoài nước thực hiện nghiên cứu. Những nội dung nào trong kết quả nghiên cứu của các học giả khác đã thực hiện mà tác giả luận án có thể kế thừa và kế thừa ở một số nội dung liên quan, phù hợp với đề tài.
Sau đó xác định những vấn đề chính luận án cần đi sâu nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tác giả đã thu thập được 90 tài liệu trong và ngoài nước (trong đó có 11 tài liệu nước ngoài và 13 luận án tiến sĩ) có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án; đồng thời, tập trung tổng quan những vấn đề chính sau: 1. Tổng quan về nông nghiệp và hiệu quả phát triển nông nghiệp 1. Nông nghiệp Đây là vấn đề phải làm rõ để có cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Vì thế, tác giả luận án đã tập trung tìm hiểu về vấn đề này, trong điều kiện thời gian nghiên cứu và tài liệu có được, tác giả đã thu thập được 9 tài liệu (trong đó có 7 tài liệu trong nước và 2 tài liệu nước ngoài) đề cập tới vấn đề này. Tài liệu trong nước Theo tác giả được biết thì ở Việt Nam hiểu về nông nghiệp hiện còn có ý kiến khác nhau. Do đó, tác giả đã tìm hiểu tài liệu để thấy rõ hơn về nhận định này phục vụ việc nghiên cứu của luận án. 9 Phần lớn các giáo trình về “Kinh tế nông nghiệp” đều đề cập tới khái niệm về “Nông nghiệp”.
Theo học giả Vũ Đình Thắng [41], nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế, mang nhiều yêu tố xã hội (liên quan tới nông dân, nông nghiệp, nông thôn); nó là một hệ thống mang đặc tính sinh học - kỹ thuật - kinh tế - xã hội. Theo học giả, hiểu theo nghĩa rộng thì nông nghiệp gồm cả nông nghiệp và lâm nghiêp; còn hiểu theo nghĩa hẹp thì chỉ có nông nghiệp mà không bao gồm lâm nghiệp. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, nông nghiệp gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Tác giả luận án thấy rằng, cách nói theo nghĩa rộng hay theo nghĩa hẹp đã có từ lâu, đến nay cần phải xem xét lại.
Tác giả luận án thấy chưa có lý do cụ thể để đặt vấn đề nông nghiệp theo nghĩa rộng và nông nghiệp theo nghĩa hẹp. Sản xuất nông nghiệp và sản xuất lâm nghiệp khác hẳn nhau. “Lâm nghiệp” nếu hiểu theo đúng nghĩa của cụm từ này thì “nghiệp” là nghề còn “lâm” là rừng. Do vậy, có thể hiểu lâm nghiệp là nghề rừng và hoạt động lâm nghiệp chủ yếu chỉ diễn ra trên đất rừng.
Do đó việc tính toán hiệu quả lâm nghiệp khác xa so với việc tính toán hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Từ quan điểm như vậy, tác giả cho rằng, không thể tồn tại cách hiểu “nông nghiệp theo nghĩa rộng”. Học giảVũ Đình Thắng cho rằng, nông nghiệp có vai trò to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp “đầu vào” cho công nghiệp (với tư cách là nguyên liệu), cung cấp lao động cho khu vực công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông nghiệp gắn liền với nông thôn nên phát triển nông nghiệp không tách rời phát triển nông thôn, cũng như nông dân không tách rời nông thôn và nông nghiệp.
Tác giả luận án tán đồng với quan điểm này. Khi nói khu vực sản xuất nông nghiệp là hàm ý nói tới các hoạt động sản xuất nông nghiệp gắn với người nông dân. Khi ấy nếu khu vực sản xuất nông nghiệp do cơ giới hóa mà có lao động dư ra và sẽ chuyển sang làm việc ở khu vực công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Học giả Nguyễn Minh Châu [6] coi nông nghiệp như là một hệ thống sản xuất chuyên ngành, bao gồm một số phân ngành cụ thể mà mỗi phân ngành lại là một hệ thống nhỏ trong đó như hệ thống trồng trọt và hệ thống chăn nuôi.
Trong lĩnh vực trồng trọt học giả có đề cập đến hệ thống canh tác cây trồng. 10 Một người nghiên cứu nhiều tới hệ thông nông nghiệp là học giả Phạm Chí Thành [39], theo học giả này khi nói đến phát triển nông nghiệp là nói tới các hệ thống nông nghiệp. Đó là hệ thống có thứ bậc được lồng vào nhau của các hệ sinh thái nông nghiệp. Hệ thống nông nghiệp bao gồm các yếu tố sinh thái, kinh tế và con người, không gian, có quan hệ mật thiết với hệ sinh thái nông nghiệp.1: Đặc điểm của hệ sinh thái tự nhiên và của hệ sinh thái nông nghiệp Hệ sinh thái tự nhiên Hệ sinh thái nông nghiệp - Mục đích chủ yếu là cân bằng sự sống - Mục đích đáp ứng nhu cầu con người - Hiện hữu của chu trình vật chất khép và do con người cải hóa tự nhiên kín - Chu trình vật chất mở - Có thể bị tổn thương và có khả năng - Cấu trúc đơn giản và ổn định theo chu phục hồi kỳ - Đa dạng và phức tap về cấu trúc thành - Kém ổn định hơn và cũng có thể bị tổn phần thương nếu canh tác tự phát và truyền - Ôn định lâu dài thống Nguồn: Phạm Chí Thành [39] Luật bảo về môi trường của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [36] đã chỉ rõ yêu cầu phát triển thân thiện với môi trường đối với sản xuất nông, lâm nghiệp.
Luật này chỉ rõ, ở Việt Nam cần hướng tới nền nông nghiệp sạch (hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học để không gây tác động xấu đến môi trường sống). Vấn đề quan trọng theo tác giả luận án là điều kiện gì để nông dân nước ta thực hiện được phương châm phát triển sản xuất nông nghiệp sạch. Dân trí và lương tâm nghề nghiệp của người sản xuất quyết định lớn đến sản xuất thân thiện với môi trường và vì cộng đồng. Nếu chỉ vì lợi nhuận thì dễ dàng bỏ qua các yêu cầu sản xuất thân thiện với môi trường.
Biểu số 53 trong Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Phú Thọ [8] diễn đạt về giá trị sản lượng và giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp (bằng tổng giá trị sản lượng nông nghiệp trừ đi tổng chi phí trung gian) có ghi: 11 Tổng giá trị sản lượng ngành nông nghiệp, trong đó chia theo ngành sản phẩm: + Trồng trọt + Chăn nuôi + Dịch vụ nông nghiệp Như vậy, theo Cục thống kê Phú Thọ ngành nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quốc dân. Nó bao gồm ba phân ngành là trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Như tổng quan ở trên thì đa phần các học giả cho rằng, nông nghiệp là một hệ thống kinh tế, là một trong những ngành chủ yếu của hệ thống kinh tế quốc dân (hay của nền kinh tế). Nông nghiệp là một hệ thống các hoạt động kinh tế gồm có trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp.
Cách hiểu như thế là phù hợp cả về mặt khoa học và cả về mặt thực tiễn. Những người làm nông nghiệp được gọi là nông dân, còn những người làm lâm nghiệp được gọi là cư dân lâm nghiệp. Ai là người có vai trò làm cho nông nghiệp phát triển có hiệu quả? Học giả Ngô Doãn Vịnh [55], cho rằng, khi xem xét hiện đại hóa cần phân tích nền kinh tế theo hai nhóm ngành: nông nghiệp và phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ). Hai ngành này phải phát triển hài hòa, nhịp nhàng với nhau mới đảm bảo để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững.
Học giả này cho biết, nông nghiệp trước hết là một ngành do người nông dân quyết định mà người nông dân thì thường gắn liền với sự “chậm chạp, tự do và tự phát, ngại liên kết và mở mang” nên muốn hiện đại hóa nông nghiệp và làm cho sản xuất nông nghiệp có khả năng tham gia toàn cầu hóa thì Nhà nước phải có biện pháp cụ thể, thiết thực để quốc gia có được đội ngũ nông dân công nghiệp và hành động với trí tuệ cao. Tài liệu nước ngoài Trong quá trình nghiên cứu, tác giả thấy có một số tài liệu đề cập vấn đề nông nghiệp. Một số học giả Boris E. Bravo Ureta and Antnio E.
Pinheiro [87] phân tích hiệu quả đất nông nghiệp ở các nước đang phát triển rất nhấn mạnh tới vấn đề phát triển nông nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa. Theo họ người nông dân phải có hiểu biết về lợi ích đem lại từ toàn cầu hóa cũng như phải hiểu rõ những thách thức đặt ra từ toàn cầu hóa. Từ 12 đó họ nhấn mạnh rằng, người nông dân phải được đào tạo một cách bài bản để có thể tạo ra những nông sản có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng ở những quốc gia có công nghiệp phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga. Các học giả Benin, Samuel Place, Frank Nkonya, Ephraim M.
Các học giả trên cho rằng đất sử dụng để tạo ra nông sản (sản phẩm chăn nuôi và sản phẩm trồng trọt) là đất nông nghiệp, cách hiểu này giống với nhiều học giả ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề giá trị hóa đất nông nghiệp thì chưa phải là hiệu quả sử dụng đất. Bởi vì, giá trị hóa đất nông nghiệp chỉ là xác định giá trị đất nông nghiệp mà thôi, ví dụ như đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng hay ở vùng miền núi có giá trị bao nhiêu một ha. Hay ngay ở vùng đồng bằng thì đất để trồng rau tại vùng ven các thành phố có trị giá bao nhiêu 1 ha hoặc giá đất trồng lúa ở các tỉnh vùng đồng bằng có giá trị bao nhiêu.