phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT 5 Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với Doanh nghiệp tại Cục Thuế Ninh Bình. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý thuế GTGT là hoạt động quản lý nhà nƣớc của cơ quan thuế tác động đến để đảm bảo thực thi pháp luật về thuế GTGT với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế GTGT cho NSNN. Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế GTGT đƣợc áp dụng ở các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy công tác quản lý thuế GTGT ở mỗi nƣớc có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện ở nƣớc đó.
Ngay cả công tác quản lý thuế GTGT trong một quốc gia ở các địa phƣơng, các cấp khác nhau cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi địa phƣơng cũng nhƣ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cấp, mỗi bộ phận. Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về thuế và quản lý thuế ở Việt Nam khá phong phú đa dạng. Cũng có nhiều công trình nghiên cứu về một sắc thuế cụ thể nhƣ Giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp với các giải pháp cụ thể áp dụng ở phạm vi toàn quốc hoặc một địa phƣơng cụ thể: Với đề tài luận án tiến sỹ: “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (2011) của Tác giả Nguyễn Thị Thùy Dƣơng đãchỉ rõ, các tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa cơ quan thuế với ngƣời nộp thuế, quan hệ với các nhân viên quản lý thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản lý, đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành.Luận án cũng chỉ ra những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản lý thuế, bao gồm gia tăng hợp tác thuế giữa các nƣớc, thúc đẩy cạnh tranh thuế, thay đổi chính sách thuế và quản lý thuế, đặc biệt tăng cƣờng đối phó với hiện tƣợng trốn và tránh thuế quốc tế. Tuy nhiên, nghiên cứu của đề tài mới chỉ dừng lại ở mốc thời gian 2010, các giải pháp chƣa gắn với tình hình cụ thể của địa phƣơng nào.
”Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, của Th.s Nguyễn Văn Nhuận, năm 2014, Trƣờng Đại học Thái Nguyên đã hệ thống hóa đƣợc những vấn đề lý luận về thuế 7 GTGT và quản lý thuế GTGT. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn và đƣa ra các đề xuất, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT tại CCT thị xã Từ Sơn tuy nhiên các giải pháp chƣa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản lý thuế ở việt nam hiện nay. “Pháp luật về quản lý thuế GTGT tại Việt Nam” của Th.s Trƣơng Thị Hồng Nhung, năm 2013, Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã hệ thống vấn đề pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam dƣới góc độ pháp lý, đƣa ra kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuế GTGT và thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế, kết luận về nguyên nhân của thực trạng để làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay. Luận văn mới chỉ dừng lại ở mặt lý luận, chƣa đề cập về hiệu quả quản lý thuế.
“ Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng của một số nƣớc trên thế giới” (kèm theo Tờ trình Quốc hội số 161/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013) trình bày 8 nội dung của chính sách thuế GTGT ở một số nƣớc trên thế giới gắn với những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung trong Luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam. Báo cáo cũng nêu lên xu hƣớng của các nƣớc trên thế giới trong lộ trình cải cách thuế suất và cơ cấu biểu thuế GTGT, phạm vi áp dụng thuế suất 0%, hàng hóa và dịch vụ không chịu thuế GTGT, ngƣỡng kê khai áp dụng thuế GTGT, thuế GTGT đối với đối tƣợng không cƣ trú… Qua báo cáo cho chúng ta thấy xu hƣớng chung của các nƣớc hiện nay là tăng cƣờng vai trò của thuế GTGT, đồng thời từng bƣớc giảm dần thuế suất thuế thu nhập để tăng tính hấp dẫn của môi trƣờng đầu tƣ và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Do đó ngoài việc cải cách chính sách thuế thì việc tìm kiếm các nguồn thu mới, quản lý chặt chẽ căn cứ tính thuế sẽ góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Bài nghiên cứu điều tra : “ Giải pháp chống gian lận trong hoàn thuế GTGT” của tác giả Lê Thị Hòa - Đại học Kinh tế kỹ thuật công nghiệp đăng trên Tạp chí tài chính tháng 7/2014 đã chỉ ra những thủ đoạn để gian lận thuế GTGT trong hồ sơ hoàn thuế, nhấn mạnh đến những kẽ hở trong công tác quản lý hóa đơn, quản lý 8 doanh thu dẫn đến thất thoát ngân sách nhà nƣớc.
Bài nghiên cứu chỉ đề cập tới một góc độ của quản lý thuế là vấn đề hoàn thuế GTGT. Nhìn chung, các công trình trên đã nêu rõ đƣợc các căn cứ pháp lý, cơ sở lý luận về pháp luật thuế GTGT, quản lý thuế GTGT và cũng đƣa ra một số biện pháp và kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý thu thuế GTGT. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, địa phƣơng, cấp ngành khác nhau thì việc vận dụng chính sách và áp dụng các giải pháp không hoàn toàn giống nhau. Chính vì vậy, tôi đã linh hoạt khi tham khảo những nội dung mà tôi cho là phù hợp đối với đơn vị mà tôi nghiên cứu, để tránh áp dụng một cách máy móc, không hiệu quả cho thực tiễn việc nghiên cứu giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT đối với Doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình.
Những điểm mới trong luận văn của học viên - Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về vấn đề quản lý thu thuế GTGT đối với Doanh nghiệp ở Cục thuế Ninh Bình. Các giải pháp đề xuất đƣa ra nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT gắn với việc phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tính đặc thù của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. - Luận văn cũng đƣa ra các chỉ tiêu định tính, định lƣợng cụ thể để đánh giá hiệu quả quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình. Các chỉ tiêu này đƣợc xây dựng, phân tích, so sánh, đánh giá để thấy đƣợc ý nghĩa cũng nhƣ sự biến động của chúng.
Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT 1. Khái niệm thuế Giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế hiện đại, đƣợc các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất sớm. Trên thế giới, thuế GTGT đã có lịch sử từ lâu đời, lần đầu xuất hiện năm 1917 và qua nhiều quá trình áp dụng, kiểm nghiệm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, có rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận về thuế GTGT.
Theo quan điểm chung của các quốc gia thì, thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá 9 trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế đƣợc tính trên giá bán cuối cùng cho ngƣời tiêu dùng. Thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nộp hộ ngƣời tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà ngƣời tiêu dùng phải trả cho ngƣời bán. Ngƣời tiêu dùng là ngƣời chịu thuế.
Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng đƣợc hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng (Điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12) 1. Đặc trưng của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tƣợng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp, hay nói cách khác chính là giá mua hàng hóa, dịch vụ mà ngƣời tiêu dùng trả đã bao gồm cả thuế GTGT. Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu đƣợc ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Nhƣ vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định đƣợc đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trƣớc sẽ đƣợc tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và ngƣời tiêu dùng cuối cùng là ngƣời phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó.
Tổng số thuế ngƣời tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ. Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, đƣợc biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, do NNT chỉ là ngƣời “thay mặt” ngƣời tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn 10 thuần là một khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp hàng hóa, dịch vụ.