lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình, cơ sở lý luận của công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu 4 Chƣơng 3: Đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hiệu quả công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế GTGT đƣợc áp dụng ở các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy công tác quản lý thuế GTGT ở mỗi nƣớc có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện ở nƣớc đó. Ngay cả công tác quản lý thuế GTGT trong một quốc gia ở các địa phƣơng, các cấp khác nhau cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi địa phƣơng cũng nhƣ chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cấp, mỗi bộ phận.
Trong thời gian qua, các công trình nghiên cứu về thuế và quản lý thuế ở Việt Nam khá phong phú đa dạng, cụ thể: Bài viết của tác giả Minh Anh (2018) đăng trên trang thoibaotaichinhvietnam.vn đã thống kê về mức thuế suất GTGT của 112 nƣớc trên thế giới, trong đó có 88 nƣớc có mức thuế suất từ 12 - 25% (56 nƣớc có mức thuế suất từ 17 - 25%), còn lại 24 nƣớc phổ biến ở mức hơn 10%. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu sụt giảm nhanh nên tỷ lệ huy động vào NSNN từ thuế, phí cũng giảm nhanh. Trên thế giới, tình trạng nợ công tăng cao khiến các nƣớc, kể cả các nƣớc phát triển, tiến hành cơ cấu lại thu NSNN theo hƣớng tăng cƣờng thu thuế giá thu (thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt) để bù đắp do giảm thuế thu nhập và thuế nhập khẩu. Bài viết của tác giả Trung Kiên (2018) đăng trên trang tapchithue.vn đã công bố thống kê về hiệu quả công tác quản lý hành chính thuế.
Theo đó 3/6 chỉ tiêu đánh giá hệ thống thuế của Việt Nam đều đạt điểm số cao là quản lý hành chính thuế đạt 9/10 điểm, tính đầy đủ của nguồn thu ngân sách 8/10 điểm và tính lũy tiến hệ thống thuế 7/10. Báo cáo này cho thấy tính hiệu quả của công tác quản lý thuế nói chung đang đạt ở mức 6 cao, tuy nhiên các khoản thu phí và lệ phí còn khá nhiều, đồng thời nguồn thu NSNN vẫn đang dựa nhiều vào thuế gián thu. Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Đại Nghĩa (2014) đã hệ thống hóa đƣợc những vấn đề lý luận về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc và đƣa ra các đề xuất, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT tại Cục thuế Vĩnh Phúc, tuy nhiên các giải pháp chƣa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trƣơng Thị Hồng Nhung (2013) đã hệ thống vấn đề pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam dƣới góc độ pháp lý, đƣa ra kết luận khoa học về thực trạng pháp luật quản lý thuế GTGT và thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý thuế, kết luận về nguyên nhân của thực trạng để làm cơ sở cho việc xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật quản lý thuế GTGT ở Việt Nam. Luận văn mới chỉ dừng lại ở mặt lý luận, chƣa đề cập về hiệu quả hoạt động quản lý thuế trên địa bàn Việt Nam. Nhìn chung, các công trình trên đã nêu rõ đƣợc các căn cứ pháp lý, cơ sở lý luận về pháp luật thuế GTGT, quản lý thuế GTGT và cũng đƣa ra một số biện pháp, kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quản lý thuế GTGT. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng, cấp ngành khác nhau thì việc vận dụng chính sách và áp dụng các giải pháp không hoàn toàn giống nhau.
Chính vì vậy, học viên đã linh hoạt khi tham khảo những nội dung mà bản thân cho là phù hợp đối với đơn vị nghiên cứu, để tránh áp dụng một cách máy móc, không hiệu quả cho thực tiễn việc nghiên cứu giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Khoảng trống nghiên cứu Thứ nhất, Luận văn là nghiên cứu khoa học riêng về quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Cục thuế tỉnh Bắc Giang quản lý trong giai đoạn 2015-2017. Các giải pháp đề xuất đƣa ra nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT 7 gắn với việc phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tính đặc thù của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Thứ hai, Luận văn cũng đƣa ra các chỉ tiêu định tính, định lƣợng cụ thể để đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Cục thuế Bắc Giang.
Các chỉ tiêu này đƣợc xây dựng, phân tích, so sánh, đánh giá để thấy đƣợc ý nghĩa cũng nhƣ sự biến động của chúng. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo hình thức sở hữu tài sản, các doanh nghiệp ở Việt Nam đƣợc chia thành hai loại doanh nghiệp là doanh nghiệp Nhà nƣớc và doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Trong đó: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nƣớc, trừ khối hợp tác xã, toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tƣ nhân hay tập thể ngƣời lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phƣơng thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nƣớc hay cơ quan quản lý. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm nhiều loại hình nhƣ công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tƣ nhân và hợp tác xã. Đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nƣớc ta có một số đặc điểm, cụ thể nhƣ sau: 8 Thứ nhất, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có đặc điểm riêng về sở hữu. Đây là đặc trƣng cơ bản nhất để phân biệt giữa doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp Nhà nƣớc.
Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phƣơng thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Do đó, họ luôn tìm mọi cách để có thể đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất bằng cách trốn, tránh thuế bằng nhiều thủ đoạn tinh vi. Vì vậy việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh cần đƣợc cơ quan thuế chú trọng tập trung, quản lý chuyên nghiệp. Thứ hai, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là đối tƣợng kinh tế chiếm số lƣợng lớn, phân bổ rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh dƣới nhiều loại hình.
Do đó cũng gây khá nhiều khó khăn trong việc quản lý đối tƣợng nộp thuế. Thứ ba, về trình độ, năng lực quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. So với những doanh nghiệp Nhà nƣớc và doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thì phần lớn ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trình độ quản lý còn chƣa cao, chƣa đƣợc đào tạo chính quy về các chuyên môn nghiệp vụ. Vì vậy, nhìn chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp, số đông doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động ở lĩnh vực thƣơng mại và dịch vụ, mục đích chính là mua đi bán lại lấy lợi nhuận chênh lệch giá, một số nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì đa số sử dụng máy móc thiết bị cũ kỹ, chƣa áp dụng đƣợc nhiều kỹ thuật, công nghệ mới, trình độ quản lý không cao do đó năng suất lao động còn thấp, chất lƣợng sản phẩm sụt giảm.
Thứ tư, về ý thức chấp hành pháp luật, đặc biệt là pháp luật thuế. Đặc điểm này phụ thuộc khá nhiều vào trình độ năng lực quản lý cũng nhƣ chuyên môn ở các doanh nghiệp. Hiện nay ở nƣớc ta, số đông chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh có trình độ văn hóa chƣa cao, do đó nhận thức về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng rất thấp, biểu hiện rõ nhất là đa số doanh nghiệp không thực hiện tốt chế độ kế toán, không thực hiện kê khai theo quy định. Thực trạng này đòi hỏi công tác quản lý thuế của Nhà nƣớc 9 phải thật sự có hiệu quả để giải quyết các vi phạm về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh một cách đúng đắn.
Với những đặc điểm trên, doanh nghiệp ngoài quốc doanh gây nhiều khó khăn hơn là thuận lợi đối với công tác quản lý của cán bộ thuế, đòi hỏi phải có phƣơng hƣớng, biện pháp để tăng cƣờng hiệu quả công việc. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Với quan điểm phát triển kinh tế bằng con đƣờng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc, tất yếu cần có sự tham gia của mọi thành phần kinh tế. Trong đó việc thu hút vốn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có ý nghĩa quan trọng để kích thích đầu tƣ phát triển kinh tế, góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế đƣợc pháp luật cho phép.
Với quy mô và hình thức kinh doanh ngày càng phong phú, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã và đang góp phần rất lớn trong việc tạo công ăn việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động.