Chương 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ 1. Lý luận cơ bản về thuế Trước tiên chúng ta sẽ tiếp cận đối với khái niệm về thuế với một số các góc độ khác nhau. Trên góc độ của NNT, thuế được coi là khoản bắt buộc được trích ra một phần từ thu nhập mà người nộp phải có trách nhiệm đóng góp cho nhà nước theo quy định của pháp luật.
Trên góc độ của nhà nước, thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc từ các cá nhân, tổ chức đối với nhà nước nhằm đáp ứng mục đích về ngân sách và chi tiêu công. Trên góc độ phân phối thu nhập và xã hội, thuế là công cụ phân phối, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, được nhà nước sử dụng để phân phối và tái phân phối thu nhập nhằm đảm bảo mọi người đều tham gia vào quá trình phân phối. Tuy nhiên những khái niệm nêu trên mới tiếp cận theo hướng một chiều và chưa nêu được ý chung nhất giữa các quan điểm. Tại điều 3 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã nêu ra khái niệm về thuế: “Thuế là một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế”.
Với quá trình phát triển của dòng lịch sử cùng với những sự thay đổi về quy mô, cách thức hay các hình thức nộp thuế thì về cơ bản thuế vẫn mang một số các đặc điểm như: Tính chất bắt buộc: Thuế được đảm bảo bằng pháp luật và sức mạnh của nhà nước, bắt buộc các chủ thể phải có nghĩa vụ thực hiện nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ chung của nhà nước để thực hiện các mục đích, nhu cầu chi tiêu công. Thuế được cơ quan quyền lực nhà nước ban hành và được thể chế bằng các văn bản quy phạm pháp luật. NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG K21-TCA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 6 Tính không hoàn trả trực tiếp: Các chủ thể khi thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước không có quyền đòi hỏi nhà nước phải hoàn trả cũng như cung cấp trực tiếp hàng hóa, dịch vụ tương ứng với số tiền bỏ ra do thuế không mang tính chất đối giá. Sự hoàn trả này sẽ được thể hiện thông qua việc các chủ thể sử dụng các chương trình phúc lợi, các chương trình công cộng do nhà nước cung cấp.
Vì vậy đây là việc hoàn trả mang tính gián tiếp của thuế. Ngoài ra một số các đặc điểm khác của thuế cũng có thể kể tới như: thuế có tính chất pháp lý cao khi được luật hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm người nộp thuế phải tuân thủ và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Cùng với đó sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự ra đời và phổ cập tiền tệ khi sử dụng tiền là vật ngang giá chung cũng đã cụ thể hóa việc nộp thuế bằng tiền, khác với các hình thức nộp thuế khác bằng sản phẩm, hàng hóa như trước đây. Hiện nay thuế còn thể hiện rõ đặc điểm, vai trò điều tiết trong nền kinh tế hơn khi còn là công cụ giúp góp phần ổn định giá cả thị trường và kiểm soát lạm phát, là một trong những công cụ quan trọng trong chính sách tài khóa.
Vai trò của thuế Trong một nền kinh tế, thuế có một vai trò quan trọng khi hiện diện trong tất cả các lĩnh vực như tiêu dùng, sản xuất, thương mại, nhà ở, phương tiện,… Mặc dù phần lớn của cải thu nhập được tạo ra bởi các chủ thể trong xã hội, họ có quyền quyết định cách thức sử dụng nó, tuy nhiên các quyết định đó đều chịu ảnh hưởng bởi giá cả thị trường, cùng với đó là chịu cả sự tác động từ thuế. Điều tiết nền kinh tế vĩ mô Thông qua xác định các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế, các chính sách miễn giảm, ưu đãi,… đều cho thấy chủ đích quản lý của nhà nước. Bằng cách sử dụng công cụ thuế, nhà nước sẽ điều chỉnh khuyến khích hay hạn chế trong từng thời kì phù hợp. Ví dụ như giảm thuế đối với hàng hóa tiêu dùng có thể sẽ khuyến khích đối với việc tiêu dùng hàng hóa.
Thuế còn là công cụ giúp kiểm soát lạm phát, điều chỉnh giá cả trên thị trường. Chẳng hạn như khi giá cả hàng hóa tăng cao do lạm phát do cầu kéo, chính phủ có NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG K21-TCA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 7 thể điều chỉnh tăng thuế tiêu dùng để tác động đến lượng cầu, hạn chế việc tăng giá đột ngột, kéo dài, giúp kiểm soát được lạm phát. Phân phối lại thu nhập Mặc dù thu nhập của mỗi người là khác nhau, tuy nhiên qua việc sử dụng công cụ là thuế, nhà nước sẽ cố gắng làm giảm khoảng cách giữa người thu nhập cao và thu nhập thấp, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, cố gắng tạo sự công bằng giữa các chủ thể trong xã hội. Ví dụ thông qua việc áp dụng biểu thuế lũy tiến đối với thuế TNCN, nhà nước sẽ thu được nhiều tiền thuế hơn từ những người có thu nhập cao, từ đó một phần nào giảm đi chênh lệch về thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Huy động nguồn lực cho nhà nước Thuế có vai trò huy động nguồn lực trong xã hội để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, giúp nhà nước có điều kiện để chi trả cho các nhu cầu chi tiêu thường xuyên, chi đầu tư phát triển ở lĩnh vực công. Đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước. LÝ LUẬN VỀ NỢ THUẾ VÀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ Thông qua những cơ sở lý thuyết chung về thuế đã đặt ra những yêu cầu thực tế về trong việc quản lý thuế. Quản lý thuế là một nội dung quan trọng của nhà nước về quản lý kinh tế, là một nhánh quan trọng về quản lý tài chính công.
Một số các nghiên cứu về tài chính công cho rằng: quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm về thuế cho các cơ quan thuế, xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong việc thực thi các chính sách về thuế. Theo Tổng cục Thuế, quan điểm về quản lý thuế là một hệ thống các quá trình có quan hệ chặt chẽ nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và công bằng trên cơ sở quy định pháp luật về thuế, bao gồm các hoạt động như tuyên truyền – hỗ trợ người nộp thuế, nhận hồ sơ khai thuế, tính toán thuế phải nộp, đôn đốc và thu nộp thuế. Những cơ sở lý thuyết về quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng đã được thể hiện trong một số các giáo trình như Giáo trình Quản lý thuế của Học viện NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG K21-TCA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 8 Tài chính do nhà xuất bản Tài chính phát hành năm năm 2010; hay như Giáo trình Quản lý thuế của Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh, xuất bản bởi nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012. Tại chương 8, giáo trình Học viện Ngân Hàng cũng đề cập tới định nghĩa khác về QLT: “Quản lý thuế là cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động thu thuế của một quốc gia để thực hiện các chính sách thuế nhằm đạt được mục tiêu đã định”.Lê Thị Diệu Huyền, 2020) Như vậy có thể thấy, yêu cầu về thu đúng, thu đủ, thu kịp thời là mục tiêu quan trọng nhất của quá trình quản lý thuế.
Để thực hiện mục tiêu này thì một trong các nhiệm vụ đó là quản lý số tiền đã thu và số tiền phải thu mà người nộp thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế, chưa nộp tiền vào NSNN. Xác định tầm quan trọng và cần thiết thì hiện nay Tổng cục Thuế đã ban hành và hiện sử dụng Quyết định số 1401/QĐ-TCT ngày 28/7/2015 về quy trình QLNT. Lý luận về nợ thuế a. Một số khái niệm Trước khi tiếp cận với khái niệm QLNT, chúng ta cần làm rõ một số khái niệm làm cơ sở nghiên cứu cho vấn đề QLNT.
Theo như nội dung Quyết định 1401/QĐ- TCT (Tổng cục Thuế, 2015) đã đề cập giải thích một số các khái niệm liên quan tới nợ thuế, trong đó: Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác vào NSNN theo quy định pháp luật về thuế mà người nộp thuế chưa hoàn thành nộp vào NSNN trước khi hết thời hạn quy định. Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với tiền nợ thuế là ngày tiếp theo ngày hết hạn được quy định. Ví dụ: theo như ban hành Luật Quản lý thuế và hiệu lực thi hành ngày 01/7/2020 thì thời hạn nộp đối với thuế GTGT chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế (trường hợp khai thuế theo tháng); thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quí chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng phát sinh NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG K21-TCA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 9 nghĩa vụ thuế… như vậy sau thời hạn nộp này, nếu người nộp thuế chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế vào ngân sách thì coi như nợ thuế. Người nợ thuế là NNT có khoản nợ thuế theo quy định.
Khoản nợ là số tiền tiền thuế bắt đầu được tính nợ hay còn gọi là bắt đầu phát sinh tiền thuế nợ. Tiền thuế đang chờ điều chỉnh là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định pháp luật mà NNT đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền; chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc; chờ ghi thu - ghi chi; tiền thuế được gia hạn nộp thuế nhưng chưa kịp thời hạch toán/ghi nhận/cập nhật trên ứng dụng mà cơ quan thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định; tiền thuế này không tính tiền chậm nộp. Số ngày nợ thuế là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm kết thúc tính nợ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định pháp luật. Theo như các khái niệm được đề cập như trên, có thể thấy nợ thuế là hành vi gắn với hoạt động thu của nhà nước, được quy định và giải nghĩa trong các văn bản pháp luật do nhà nước phát hành.
Nợ thuế là hành vi mà người nộp thuế không nộp hoặc nộp không đủ số tiền thuế hay các khoản tiền hành chính khác vào ngân sách theo thời hạn quy định của pháp luật.