CHƯƠNG 1 N H Ữ N G V Á N ĐÈ L Ý LU Ậ N C H U N G VÈ CÔ NG TÁC QUẢN LÝ NỢ TH U Ế VÀ C Ư Ỡ N G CHÉ NỌ TH UÉ 1. Lý luận chung về quản lý nọ- thuế 1. Tổng quan về nợ thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của nợ thuế • • • a) K hái niệm nọ- thuế Theo mục IV phần A Ọuyết định 1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011 ban hành quy trình quản lý nợ thuế quy định: Tiền thuế nọ’ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoan phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuê và đă thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN Ngưòi nọ' thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định.
K hoản nọ' là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh. Số ngày nọ- thuế của một khoản thuế nọ- là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kế tù’ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động. Thòi điểm b ắt đầu tính nọ- đối vói một khoản thuế nọ' là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Thòi điểm kết thúc tính nọ- đối vói một khoản thuế nọ- là ngày khoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác.
6 b) Đặc điếm của nọ thuế Thú nhất, n ợ th u ế là m ộ t hành vi tâm lý p h ổ biến Thuê là một hành vi phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước. Rõ ràng, việc nộp thuế luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của NNT. Vì thế tâm lý trốn thuế, tránh thuế là tâm lý phổ biến của NNT. Đặc biệt ỏ' nước ta khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất và lợi ích cua thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hồ trợ tích cực cho CQT đê thu thuế.
Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phô biên vừa làm thất thu cho NSNN, vừa không bảo đảm công bằng xã hội. Hay nói cách khác, họ tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế phải nộp. Một trong những cách đó là nợ thuế. Vì thế, đê hạn chế nợ thuế, bên cạnh những biện pháp có tính chất pháp luật để cưỡng chế NNT tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền, phô biến đê NNT tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng.
Thú hai, n ợ th u ế là hành vi vi phạm ph áp luật về thuế Ọuy phạm pháp luật về thuế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chinh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính băt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đám bao thực hiện có điều chinh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chu thề thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đên các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, ĐTNT, NNT và thời gian phải nộp thuế. Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của ĐTNT bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế.
7 Trong luật quản lý thuế quy định mức xử phạt vi phạm về hành vi chậm nộp tiền thuế, tiền phạt là 0,05%/ngày (trước 01/7/2016) và 0,03%/ngày (từ ngày 01/7/2016 trở về sau) tính trên số tiền thuế chậm nộp đó. - T hứ ba, nọ' th u ế chua hẳn là hành vi trốn thuế Hành vi trốn thuế bao gồm: chậm nộp tiền thuế và không nộp tiền thuế. Tron thuế: là hành vi cố ý vi phạm luật thuế của ĐTNT bằng mọi hình thức, thủ đoạn đê làm giảm sổ thuế phải nộp cho NN. Nợ thuế có thể do nhũng nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan, v ề chủ quan, do NNT cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng hoặc trốn thuế.
Như vậy, trong trường họp này, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật, phát sinh do ĐTNT không tự giác kê khai, nộp thuế đúng hạn và cố tình vi phạm pháp luật, v ề khách quan, do có khó khăn về SXKD hoặc thu nhập chăng hạn như: khủng hoảng kinh tế, lạm phát. mà NNT tạm thời không có khả năng để thanh toán nghĩa vụ cho NSNN. Thứ tư, n ợ th u ế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hơ của pháp luật đề giảm được một phần nghĩa vụ thuế phải nộp. Ví dụ: doanh nghiệp kê khai chi phi thuê bản quyền sáng chế, nhãn mác cao hơn giá trị thị trường của nó đê tăng chi phí đầu vào, hạ thấp thu nhập chịu thuế.
Còn nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất. Đó là một nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhung cố tình hoặc dây dưa nộp chậm. Nguyên nhân nọ' thuế và những tác động của nọ’ thuế a) Nguyên nhân nọ thuế Nợ thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể khái quát một số nguyên nhân chủ yếu sau: Nguyên nhân khách quan: -Nền kinh tế gặp nhiều khó khăn 8 Những năm gần đây do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn, không có tiền nộp thuế. Điển hình là việc nhà nước thắt chặt chi tiêu đầu tư XDCB làm cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, dù đã hoàn thành công trình nhưng không được giải ngân kịp thời dẫn đến nợ thuế.
- Văn bản pháp luật về thuế thường xuyên thay đôi Pháp luật về thuế của nước ta mới được hình thành nên còn con trẻ, luôn học hôi nhiều nước trên thế giới và có độ trễ nhất định vói sự phát triển thần tốc của thị trường. Hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam hiện nay còn khá phức tạp và khổng lồ về số lượng văn ban, luôn được đổi mới để từng bước theo kịp nền kinh tế. Vì thế đôi khi NNT chưa the nhớ hết cũng như cập nhật hết những thay đổi của văn bản chính sách. Bên cạnh đó, chính sách thuế hiện nay đang áp dụng tỷ lệ tính phạt chậm nộp 0,05%/ngày và 0,03%/ngày (kể từ ngày 1/7/2016 trở về sau), tỷ lệ này thấp hơn lãi suất ngân hàng nên doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận nộp phạt để chiếm dụng tiền thuế.
Cơ sở vật chất của ngành thuế còn hạn chế Cơ sở vật chất ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý nợ thuế. Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế. phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp úng của ngành thuế. Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất ngành thuế.
Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin của cơ quan thuế phải có khả năng đáp ứng được thì nhũng quy định trong chính sách về phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán' thuế, quản lý thu thuế. mới có thể triển khai. Đe quản lý nợ thuế của NNT một cách kịp thời và chính xác đòi hỏi phải xây dựng hệ thống thông tin tích hợp. Việc xây dựng hệ thống thông tin tích họp đe quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu rất 9 lớn, và sẽ phát huy hiệu quả nếu xét về dài hạn.
Nhung thực tế hệ thống quản lý này còn nhiều sai sót, thường xuyên cập nhật nâng cấp, dẫn đến số thuế nọ' cần quản lý chưa chính xác. - Nguyên nhân chủ quan: - Sự phôi họp của người dân trong công tác quản lý thu thuế còn thấp Sự phối hợp của người dân trong công tác quản lý thu thuế có ý nghĩa rất quan trọng. Cơ quan thuế không thể nắm bắt hết được tình hình kinh doanh của từng doanh nghiệp, do đó cần có sự phối hợp của nguời dân để việc quản lý tu thuế thuận lợi hơn. Tuy nhiên, đại bộ phận người dân chưa phê phán và lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ, phối hợp với CQT để thu thuế vào NSNN.
Do đó, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, chiếm dụng tiền thuế cua NSNN còn xảy ra phổ biến, vừa làm thất thu NSNN, vừa không đảm bảo công bằng giữa các ĐTNT. - Ỷ thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận NNT thảp Ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT là yếu tố có ảnh hưởng quyết định tới việc thực thi luật thuế. Ý thức chấp hành này thể hiện rõ rệt qua hành vi tự khai nộp thuế của người nộp thuế. Trình độ của người dân tác động mạnh mẽ đến ý thức châp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, tỉ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế.
Dân trí càng cao, hiểu biết về nghĩa vụ với Nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng càng sâu sắc, người nộp thuế càng có ý thức tuân thủ. Nếu nhận thức đúng đắn về nghĩa vụ thuế và quyền thụ hưởng ,lợi ích từ khoản tiền thuế mà mình đóng góp; hiểu rõ về nội dung chính sách và nghiệp vụ tính thuế, kê khai và nộp thuế;'nhận thức đúng trách nhiệm pháp luật về nghĩa vụ phải kê khai nộp thuế của mình thì người nộp thuế sẽ tự nguyện trong việc khai, nộp thuế. Hành vi trốn thuế, cố tình dây dưa, chây ỳ sẽ ít 10 xảy ra, công tác quản lý thu thuế và thanh tra, kiếm tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn. - Một so doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, về hoạt động SXKD - Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.
Khi Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, kinh doanh có lãi, nguồn tài chính dồi dào sẽ thực thi pháp luật thuế hiệu quả hơn.