CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ QUẢN LÝ NỢ, CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển Trong mỗi tổ chức luôn có sự mâu thuẫn về các mối quan hệ lợi ích khác nhau như mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích của người lao động và lợi ích chủ doanh nghiệp. Để giải quyết các mâu thuẫn này cần có các quy định để kiểm soát ràng buộc sao cho cá nhân không vì lợi ích riêng tư mà làm tổn hại đến lợi ích của cả tập thể hay người lao động không từ bỏ lợi ích cá nhân mà vẫn không làm tổn hại đến lợi ích chủ doanh nghiệp. Để thực hiện các chức năng kiểm soát, nhà quản lý cần sử dụng công cụ đó là kiểm soát nội bộ (KSNB) của đơn vị. Dưới góc độ chủ động phòng ngừa và ngăn chặn sai phạm, một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ góp phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được xem trọng, nó là một đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước.Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra năm nhân tố về KSNB bao gồm các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán.
Năm 1992, bản Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB và được công bố năm 2004 (INTOSAI 2004). Điều cần lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo 8 COSO 1992. Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và được công bố vào năm 2014 (INTOSAI 2013).
Đại hội các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế lần thứ 22 tổ chức tại các Vương quốc Ả rập, đóng góp của INTOSAI 2016 về tăng cường phòng chống tham nhũng cho chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015.2 Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ * Theo INTOSAI năm 1992: Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI năm 1992): “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Mục tiêu: - Thúc đẩy hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất lượng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức. - Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô, vi phạm pháp luật. - Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước, của nội bộ đơn vị.
- Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính và hoạt động, lập báo cáo chính xác, kịp thời. * Theo INTOSAI năm 2004: Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI năm 2014): “Kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức. Sau đây là mục tiêu cần đạt được: - Thực hiện các hoạt động một cách hợp lý kỷ cương, có đạo đức, có kinh tế, hiệu quả và thích hợp. - Thực hiện đúng trách nhiệm - Tuân thủ pháp luật hiện hành và các nguyên tắc, quy định - Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”.
* Theo INTOSAI năm 2013: 9 Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI năm 2013): “Khái niệm về kiểm soát nội bộ của INTOSAI 2013 cũng giống như hướng dẫn của INTOSAI năm 2004; tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức”. Trên cơ sở nội dung của INTOSAI (2004), INTOSAI (2013) đã cập nhật và bổ sung một số nội dung phù hợp với yêu cầu thực tế và tình hình phát triển của xã hội hiện nay. Các vấn đề không thay đổi trong INTOSAI (2013) - Định nghĩa về KSNB. - Các tiêu chuẩn nền tảng được sử dụng để đánh giá hiệu quả của hệ thống KSNB.
- Xác định KSNB là một quá trình, một nhiệm vụ không thể thiếu được của một tổ chức, đơn vị nhằm đạt được mục tiêu gồm 5 yếu tố: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát. - Vai trò quan trọng của sự xét đoán trong thiết kế, thực hiện, tiến hành KSNB và trong việc đánh giá tính hiệu quả của nó. Các vấn đề được INTOSAI (2013) bổ sung INTOSAI 2013: Hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức, có cả yếu tố ERP trong quản lý. - Cập nhật các thay đổi trong kinh doanh, môi trường hoạt động.
- Mở rộng mục tiêu kinh doanh và mục tiêu báo cáo: Mục tiêu tài chính và phi tài chính. - Các khái niệm căn bản về nhân tố tổng hợp thành các nguyên tắc. - Làm rõ các yêu cầu đối với tính hữu hiệu. * Một số nội dung cơ bản của INTOSAI 2016: Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao INTOSAI 2016, định nghĩa Kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình phân tích năng động liên tục thích ứng với những thay đổi mà tổ chức đang đối 10 mặt.
Ban quản lý và nhân viên các cấp phải tham gia vào quá trình này để giải quyết các rủi ro và đảm bảo hợp lý cho việc đạt được sứ mệnh của tổ chức và các mục tiêu chung.” INTOSAI GOV 9100 định nghĩa: “KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức”. Kiểm soát nội bộ là một quá trình không phải là một sự kiện hay tình huống, mà là một loạt những hành động xảy ra trong suốt hoạt động của một thực thể trên cơ sở liên tục. Nó được thực hiện bởi các quy trình quản lý nhân sự cơ bản như: Lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Bất kỳ tổ chức nào cũng chủ yếu quan tâm đến việc hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Các thực thể tồn tại cho một mục đích khu vực công nói chung liên quan đến việc cung cấp một dịch vụ và một kết quả có lợi ích công cộng. Để giải quyết các rủi ro; Bất kể nhiệm vụ có thể là gì, thành quả của nó sẽ đối mặt với tất cả các loại rủi ro. Nhiệm vụ quản lý là xác định và đáp ứng những rủi ro này để tối đa hóa khả năng đạt được sứ mệnh của tổ chức. Kiểm soát nội bộ có thể giúp giải quyết những rủi ro này, tuy nhiên nó chỉ có thể đảm bảo hợp lý về thành tích của sứ mệnh và mục tiêu chung.
Cung cấp sự đảm bảo hợp lý: Dù được thiết kế và vận hành tốt như thế nào, kiểm soát nội bộ không thể đảm bảo sự quản lý tuyệt đối về việc đạt được các mục tiêu chung. Thay vào đó, các hướng dẫn thừa nhận rằng chỉ có thể đạt được mức độ đảm bảo “đáng tin cậy”. Sự đảm bảo hợp lý tương ứng với mức độ tự tin thỏa đáng theo các cân nhắc về chi phí, lợi ích và rủi ro. Sự đảm bảo hợp lý phản ánh quan niệm rằng sự không chắc chắn và rủi ro liên quan đến tương lai, mà không ai có thể tiên đoán một cách chắc chắn.
Sự đảm bảo hợp lý nhận ra rằng chi phí kiểm soát nội bộ không được vượt quá lợi ích thu được. Các quyết định về phản hồi rủi ro và kiểm soát cơ sở phải xem xét các chi phí và lợi ích tương đối. Mục tiêu chung: Thực hiện các hoạt động có trật tự, đạo đức, kinh tế và hiệu quả: Hoạt động của đơn vị phải có sự trật tự, có đạo đức, tiết kiệm, hiệu quả.Trật tự có nghĩa là một cách có tổ chức, có phương pháp. Đạo đức liên quan đến các 11 nguyên tắc luân lý, tầm quan trọng của hành vi đạo đức, phòng ngừa và phát hiện gian lận, tham nhũng trong khu vực công.
Kỳ vọng là công chức phải phục vụ lợi ích công cộng bằng sự công bằng và quản lý tài nguyên công đúng. Công dân nên được đối xử công bằng trên cơ sở tính hợp pháp và công lý. Do đó đạo đức công chúng là điều kiện tiên quyết và củng cố niềm tin của công chúng và là một yếu tố chính trong quản trị tốt. Kinh tế có nghĩa là không lãng phí hoặc lãng phí.
Nó có nghĩa là nhận đúng nguồn lực, chất lượng đúng, được giao đúng thời hạn và địa điểm với chi phí thấp nhất. Hiệu quả đề cập đến mối quan hệ giữa các nguồn lực được sử dụng và kết quả đầu ra được sản xuất để đạt được các mục tiêu. Hoàn thành các nghĩa vụ về trách nhiệm: Trách nhiệm giải trình là quá trình mà các tổ chức dịch vụ công và cá nhân trong họ chịu trách nhiệm về các quyết định và hành động của mình, bao gồm cả việc quản lý quỹ công cộng, sự công bằng và tất cả các khía cạnh của hoạt động.