CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ QUY TRÌNH KÊ KHAI THUẾ 1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong khu vực công 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống KSNB trong khu vực công. Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ra đời vào năm 1953. Với vai trò là hiệp hội nghề nghiệp của các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI), INTOSAI đã góp phần quan trọng trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, INTOSAI còn là diễn đàn về kiểm toán viên nhà nước trên toàn thế giới, trao đổi những vấn đề cùng quan tâm và cập nhật những tiến bộ mới nhất của các chuẩn mực kiểm toán và các quy định về nghề nghiệp cũng như thông lệ tốt nhất.
Năm 1992, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB, và công bố năm 2004. Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về kiểm soát nội bộ của báo cáo INTOSAI các phiên bản trước. Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và công bố áp dụng vào năm 2014.
INTOSAI liên tục nghiên cứu, cập nhập, bổ sung và đã ban hành nhiều chuẩn mực, đưa ra các nội dung cụ thể và có những quy định, hướng dẫn và những kinh nghiệm cho đơn vị thuộc khu vực công khi áp dụng. Những chuẩn mực đã ban hành có thể nghiên cứu áp dụng gồm: INTOSAI GOV 9100 - Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB cho đơn vị khu vực công; INTOSAI GOV 9110 - Hướng dẫn cho báo cáo sự hữu hiệu của KSNB: Kinh nghiệm của INTOSAI trong vận hành và đánh giá KSNB; INTOSAI GOV 9130 - Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB cho đơn vị khu vực công: vấn đề thông tin trong quản lý rủi ro của tổ chức. Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết thông thường về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù của khu vực công.2 Khái niệm về hệ thống KSNB Theo báo cáo của INTOSAI 1992 thì: KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm đảm bảo sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Như vậy, KSNB góp phần thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt được tính hữu hiệu và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; giúp bảo vệ các tài sản và nguồn lực của đơn vị không bị thất thoát, tham ô và sử dụng lãng phí, sai mục đích; khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của nhà nước và nội bộ.
Theo INTOSAI GOV 9100 (Seol 2001), KSNB đã thay đổi theo hướng quản trị rủi ro, theo đó: KSNB là một quá trình độc lập bị tác động bởi người quản lý và các cá nhân trong tổ chức và được thiết kế để nhận diện rủi ro và cung cấp giải pháp tin cậy nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, những mục tiêu chung mà tổ chức cần đạt, đó là: - Vận hành có trật tự, đúng đắn, tính kinh tế, các hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; - Thực hiện tốt trách nhiệm giải trình; - Tuân theo luật pháp và các quy tắc; - Bảo đảm an toàn nguồn lực chống lại mất mát, lãng phí và thiệt hại. Tài liệu hướng dẫn INTOSAI 2004 định nghĩa: "KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức". Định nghĩa này tiếp tục được khẳng định trong INTOSAI 2013. Đồng thời, phiên bản này có sự bổ sung kiểm soát theo hướng quản trị rủi ro và các biện pháp để giảm thiểu gian lận theo đặc thù hoạt động của các tổ chức cũng như bối cảnh áp dụng công nghệ thông tin, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức.
KSNB là một quá trình năng động có thể điều chỉnh liên tục trước những rủi ro và thay đổi mà tổ chức phải đối mặt, giám sát để đảm bảo KSNB được tiếp tục trước những thay đổi mục tiêu, môi trường, nguồn lực và rủi ro. Trong khu vực công, KSNB rất được quan tâm xem xét, là đối tượng được quan tâm đặc biệt của KTNN. Do đó, KSNB có vai trò rất quan trọng và tác động tích cực của nó đến kết quả hoạt động và các mục tiêu của đơn vị thì cần xem xét việc quy 12 định về thực hiện KSNB hoặc có hướng dẫn thực hiện về KSNB một cách cụ thể hơn để các đơn vị áp dụng. Các mục tiêu cần đạt được của KSNB như sau: - Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp.
- Thực hiện đúng trách nhiệm. - Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định. - Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất - Thực hiện kiểm soát những hành vi sai phạm trong thực thi công vụ, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy, giảm thiểu những sai phạm nghiêm trọng và gây thất thoát tài sản của Nhà nước.3 Các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ Cấu trúc của kiểm soát nội bộ (KSNB) có thể được xác định theo nhiều quan điểm khác nhau. Trong giới hạn phạm vi bài viết, tác giả giới thiệu về cấu trúc KSNB theo quan điểm của INTOSAI.
Theo INTOSAI 2013, hệ thống KSNB có 5 yếu tố cấu thành đó là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Đồng thời INTOSAI 2013 cũng đưa ra gợi ý 17 nguyên tắc tham khảo từ COSO 2013 để tổ chức tốt KSNB ở khu vực công. Tuy nhiên mục tiêu INTOSAI là nhấn mạnh tính tuân thủ pháp lý và quản trị nguồn lực hữu hiệu.1 Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát tạo nên một nhịp độ của tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức hoạt động của nhân viên. Nó là nền tảng cho tất cả các thành phần của KSNB, cung cấp kỷ luật và cấu trúc của hệ thống.
Các nhân tố thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm: Thứ nhất là sự liêm chính và giá trị đạo đức: Tất cả mọi người tham gia tổ chức, các nhà quản lý cũng như cán bộ nhân viên có thể duy trì và chứng minh sự liêm chính và giá trị đạo đức thông qua việc tuân thủ các điều lệ, quy định và đạo đức về cách ứng xử của cán bộ công chức nhà nước trong mọi thời điểm. Điều này có thể bao gồm việc công bố tài sản, các vị trí kiêm nhiệm bên ngoài. Ngoài ra, các tổ chức phải duy trì và chứng minh sự liêm chính và giá trị đạo đức; họ phải cho công chúng nhìn thấy được nhiệm vụ và sứ mệnh của mình. Hoạt 13 động của họ phải có đạo đức, kỷ luật, kinh tế và hiệu quả.
Chúng phải phù hợp với nhiệm vụ của họ. Muốn vậy các nhà quản lý phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ pháp luật. Đồng thời phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép làm cho các nhân viên có thể có những hành vi thiếu trung thực. Thứ hai là năng lực nhân viên: Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả và hữu hiệu cũng như có sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ.
Các nhà quản lý và nhân viên phải đảm bảo một mức độ năng lực cho phép họ hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển, thực hiện và duy trì một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt và thực hiện nhiệm vụ của mình để hoàn thành các mục tiêu của kiểm soát nội bộ và nhiệm vụ của đơn vị. Tất cả mọi người trong một tổ chức liên quan đến kiểm soát nội bộ đều có trách nhiệm cụ thể của mình. Các nhà quản lý và nhân viên phải duy trì và thể hiện một mức độ kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro và giúp đảm bảo hoạt động hữu hiệu và hiệu quả; và sự hiểu biết về kiểm soát nội bộ đủ để hoàn thành trách nhiệm của họ. Cho nên, việc tuyển dụng những người có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao là rất cần thiết với các nhà quản lý.
Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thành viên trong tổ chức, đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc. Thứ ba là triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo: Nhân tố này thể hiện qua quan điểm và nhận thức của người quản lý, phong cách điều hành lại thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của họ khi điều hành. Một số nhà quản lý hài lòng với những hoạt động kinh doanh có mức rủi ro cao, nhưng có thể thu được nhiều lợi nhuận một số lại bảo thủ và khá thận trọng với rủi ro. Có nhà quản lý trong quá trình điều hành thích tiếp xúc và trao đổi trực tiếp với nhân viên.
Ngược lại có những nhà quản lý thích điều hành công việc theo một trật tự đã định trong cơ cấu tổ chức của đơn vị. Thứ tư là cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, và được thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng bộ phận, từng thành viên trong bộ phận và mối quan hệ giữa họ với nhau. Cơ cấu tổ chức giúp cho mỗi 14 thành viên hiểu được nhiệm vụ cụ thể và từng hoạt động của họ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc hoàn thành mục tiêu chung. Cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm hoạt động của đơn vị.
Tuy nhiên, dù cơ cấu tổ chức như thế nào thì nó cũng phải giúp cho đơn vị thực hiện chiến lược và đạt được mục tiêu đề ra. Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ đảm bảo cho sự thông suốt trong việc ủy quyền và phân công trách nhiệm.