Chương I Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 quy định: “Hàng hóa, 6 dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.”[5], [6], [7],[8] Do đó, có thể thấy thuế GTGT là thuế gián thu, tính trên hàng hóa, dịch vụ. Người chịu thuế trực tiếp trên thực tế là người tiêu dùng. Các doanh nghiệp thông qua các sản phẩm bán ra của mình, tính cả phần thuế GTGT và nộp lại Nhà nước phần thuế GTGT thu được từ người tiêu dùng mà không phải nộp phần thuế GTGT đã nộp cho các nhà cung cấp trước đó. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn, không trùng lặp.
Thuế GTGT tính trên giá trị gia tăng của từng giai đoạn, hoàn toàn khác nhau và tính ở tất cả các giai đoạn từ ban đầu sản xuất, đến khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm, tiêu dùng hàng hóa. Thuế GTGT có nguyên tắc điểm đến: được tính và nộp tại nơi tiêu thụ sản phẩm/hàng hóa. Nguyên tắc này giúp khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Phạm vi điều tiết của thuế GTGT rộng: Hàng hóa, dịch vụ hầu hết đều áp dụng thuế GTGT từ khâu sản xuất đến lưu thông, tiêu thụ, trừ một số trường hợp không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT nhưng không phải kê khai tính thuế theo quy định của pháp luật (.
- Phương pháp tính thuế GTGT: có hai phương pháp Phương pháp 1: là phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng Phương pháp 2: là tính trực tiếp. Trong phương pháp này có hai phương pháp nhỏ: trực tiếp trên GTGT và trực tiếp trên doanh thu Trong đó: * Phương pháp khấu trừ căn cứ theo quy định tại Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế: “1. Phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng được quy định như sau: a) Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ; 7 b) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng; c) Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu và đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 12 của Luật này. Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.
Công thức hóa từ nội dung của luật: Số thuế Thuế Thuế GTGT = GTGT - GTGT phải nộp đầu ra đầu vào được khấu trừ Trong đó: Thuế Giá tính thuế Khối lượng Thuế suất thuế GTGT = của hàng hoá X hàng hoá, dịch X GTGT của hàng đầu ra dịch vụ vụ bán ra hoá, dịch vụ đó Còn thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở đó mua vào hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu hoặc theo tỷ lệ % quy định. Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là thuế GTGT mua vào đủ điều kiện khấu trừ gồm có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hóa đơn trong cùng một ngày của một nhà cung cấp từ 20 triệu đồng trở lên. Chỉ tiêu thuế GTGT mua vào được khấu trừ về nguyên tắc luôn nhỏ hơn hoặc cùng lắm thì bằng Thuế GTGT hàng hóa dịch vụ mua vào Mức thuế suất thuế GTGT đang áp dụng hiện nay có 3 mức: 8 + Mức thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu, không phân biệt đối tượng và hình thức xuất khẩu[5],[6],[7]. + Mức thuế suất 5%: áp dụng cho các nhóm hàng hoá, dịch vụ có tính chất thiết yếu trong cuộc sống như nước sinh hoạt, thực phẩm chưa qua chế biến bán trực tiếp cho cá nhân tiêu dùng[5],[6],[8].
+ Mức thuế suất 10% áp dụng cho các nhóm hàng hoá, dịch vụ thông thường. * Phương pháp trực tiếp căn cứ theo quy định tại Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế: + Về bản chất cách tính phương pháp trực tiếp trên GTGT được tính như phương pháp khấu trừ tuy nhiên đối tượng là Các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nhưng có thu nhập phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ và hoạt động với ngành nghề mua bán vàng, bạc, đá quý. + Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên doanh thu là các hộ kinh doanh cá thể chỉ theo dõi được đầy đủ hàng hóa dịch vụ bán ra, căn cứ vào doanh thu và tỷ lệ thuế GTGT theo ngành nghề để tính thuế GTGT phải nộp. - Vai trò của thuế GTGT Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng, chủ lực cho Ngân sách nhà nước.
Nguồn thu này đóng góp vào việc thực hiện các nhiệm vụ chi cho quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, và các lĩnh vực khác của nhà nước, chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách. Thúc đẩy lưu thông hàng hóa: thuế GTGT được áp dụng theo nguyên tắc điểm đến, nghĩa là thuế được tính và nộp tại nơi tiêu thụ sản phẩm/hàng hóa. Nguyên tắc này giúp khuyến khích lưu thông hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa sản xuất trong nước, vì doanh nghiệp sẽ được hoàn lại thuế GTGT đã nộp cho các nhà cung cấp. Khuyến khích thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu hàng hóa dịch vụ: Đối hàng, dịch vụ xuất khẩu thì thuế GTGT hàng hóa dịch vụ mua vào được khấu trừ sẽ được hoàn thuế lại cho doanh nghiệp, giúp giảm chi phí cho sản phẩm, 9 cùng với đó doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu quốc tế.
Để tính thuế GTGT, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ, chính xác các thủ tục hạch toán, kế toán, sử dụng hóa đơn theo quy định của pháp luật. Việc này góp phần nâng cao quản lý tài chính, minh bạch hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý. - Đặc điểm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Về nguồn vốn: Doanh nghiệp có quyền tự do sử dụng vốn của mình để đầu tư kinh doanh.
DNNQD được quản lý bởi hệ thống điều hành riêng, có quyền chủ động, tự hoạch định, tự quyết định mọi hoạt động của mình. Về mục tiêu hoạt động: Mục tiêu hoạt động chính của DNNQD là lợi nhuận. Về trách nhiệm: Người đại diện pháp luật và các thành viên sáng lập doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp trước pháp luật, đảm bảo các khoản nợ của mình bằng tài sản mà mình góp vốn trừ doanh nghiệp tư nhân là phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm số lượng khá lớn trong nền kinh tế thị trường, đồng thời có sự đa dạng về ngành nghề kinh doanh và độ tuổi lao động nên nguồn lao động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm phần lớn nguồn lao động trong cả nước.
10 - Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Góp phần vào các chỉ tiêu phát triển kinh tế: doanh nghiệp NQD đóng góp trong việc tăng trưởng GDP thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình ở kết quả kinh doanh là doanh thu từ việc cung cấp hàng hóa dịch vụ. Từ việc không ngừng phát triển, các DNNQD thu hút một lượng không nhỏ lao động, tạo ra việc làm, giảm thiểu tỷ lệ lao động không có việc làm trong xã hội. Đẩy mạnh phát triển thị trường: cung cấp đa dạng hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng.
Thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường. Góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Mở rộng hội nhập quốc tế: Tham gia xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra thị trường quốc tế. Thu hút đầu tư nước ngoài.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Thủy Nguyên tính đến 31/12/2023 có tổng số 2.295 doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tại ttaats cả các ngành nghề nhưng có khác ở địa bàn khác là có doanh nghiệp khai khoáng chủ yếu của thành phố, thực hiện phụ trợ cho các đơn vị trong khu công nghiệp. Công tác quản lý thuế GTGT - Khái niệm của công tác quản lý thuế GTGT Công tác quản lý thuế GTGT là các hoạt động của cơ quan thuế trên địa bàn đảm bảo nguồn thu thuế, tổ chức thu đúng thu đủ vào ngân sách nhà nước, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Sự cần thiết của công tác quản lý thuế GTGT Việc quản lý thuế hiệu quả mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Nguồn thu thuế được sử dụng để đầu tư cho các lĩnh vực như giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng,. Thuế được sử dụng như một công cụ để điều tiết kinh tế hiệu quả. Từ đó, có thể sử dụng các chính sách thuế ưu đãi để khuyến khích các ngành, nghề sản xuất, kinh doanh hiệu quả, sử dụng công nghệ tiên tiến, bảo vệ môi trường.
Đồng thời, nguồn thu thuế góp phần đảm bảo nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ an ninh, quốc phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.