CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 1.1 Tổng quan về chính sách cổ tức 1.1 Khái niệm: Chính sách cổ tức được quyết định bởi lợi nhuận sau thuế của công ty được phân phối như thế nào. Một tỷ lệ phần trăm hợp lý lợi nhuận sau thuế được giữ lại để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, và một phần được chi trả cổ tức cho các cổ đông sau một thời gian công ty hoạt động. Chính sách cổ tức sẽ ảnh hưởng đến số lượng vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp (thông qua lợi nhuận giữ lại) và chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Lợi nhuận giữ lại có thể dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần trong tương lai.
Mặt khác, cổ tức cung cấp cho các cổ đông lợi nhuận hữu hình thường xuyên. Vì thế mà chính sách cổ tức của một công ty phản ánh thông tin về tình hình “sức khỏe” tài chính, chiến lược kinh doanh và một số thông tin khác của công ty (Miler and Rock 1985). Các cổ đông cũng rất quan tâm đến tình hình “sức khỏe” tốt của công ty mình đầu tư vốn vào. Một trong những tín hiệu tốt đó là dòng cổ tức tăng trưởng ổn định hàng năm (Jonh Lintner 1950).
Bất cứ những thay đổi nào trong chính sách cổ tức cũng đều có thể phát đi những tín hiệu có lợi hoặc bất lợi cho công ty. Chính vì những điều như thế mà các giám đốc tài chính phải quan tâm nhiều đến các quyết định chi trả cổ tức của công ty. Họ sẽ quyết định xem bao nhiêu phần trăm thu nhập được chia cho các cổ đông 6 và bao nhiêu phần trăm thu nhập được giữ lại. Cổ tức cố định hay thay đổi qua các năm? Phương thức chi trả cổ tức và thời kỳ cho trả cổ tức như thế nào? 1.2 Một số học thuyết trên thế giới: Tất cả các yếu tố nêu trên đã được các nhà kinh tế học trên thế giới nghiên cứu và đúc kết thành những kết luận khác nhau.
Chúng ta có thể tham khảo sơ lược những kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế học trên thế giới sau đây. John Lintner (1950) cho rằng cổ tức phụ thuộc một phần vào lợi nhuận hiện tại của doanh nghiệp và một phần cổ tức của năm trước nên khả năng tăng lên trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ lớn nhất khi lợi nhuận hiện tại tăng lên. DIV1 = cổ tức mục tiêu = tỷ lệ mục tiêu x EPS1 Thay đổi cổ tức sẽ bằng DIV1 – DIV0 = thay đổi mục tiêu = tỷ lệ mục tiêu x EPS1 – DIV0 Fama and French (2001) cũng cho rằng có 3 nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức: lợi nhuận, triển vọng tăng trưởng, và quy mô của công ty. Những công ty càng lớn và càng có nhiều lợi nhuận thì có xu hướng chi trả cổ tức càng nhiều.
Những công ty có nhu cầu đầu tư nhiều thì có xu hướng chi trả cổ tức càng thấp. Brennan (1970) cho rằng lợi nhuận trước thuế phải tương quan thuận với tỷ suất lợi tức. Lợi nhuận trước thuế phải cao thì mới bù đắp được những bất lợi về thuế đối với cổ tức. Có nghĩa khi lợi nhuận trước thuế không thay đổi mà tỷ suất thuế cổ tức tăng lên thì cổ tức nhận được sẽ giảm đi.
Như vậy, Brennan cho rằng thuế có ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của công ty. Litzenberger và Ramaswamy (1979,1980,1982) cũng đồng quan điểm với Brennan là lợi nhuận trước thuế và tỷ suất cổ tức tỷ lệ thuận với nhau. Cụ thể là nếu tăng 1% tỷ suất cổ tức thì lợi nhuận trước thuế mong đợi phải tăng lên 23%. Tuy nhiên, Black và Scholes (1978), Miller và Scholes thì cho rằng những cổ đông chịu thuế thậm chí không phân biệt cổ tức và lãi vốn.
Họ có thể chuyển đổi 7 hình thức nhận cổ tức có lợi cho mình. Nếu cổ tức bị đánh thuế cao hơn so với lãi vốn thì doanh nghiệp sẽ chi trả tiền mặt thấp nhất. Từ đó kết luận không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ suất cổ tức với chính sách cổ tức hay giá trị thị trường của cổ phiếu. Điều này nhất quán với học thuyết nổi tiếng của Miller và Modigliani (1961) về chính sách cổ tức của doanh nghiệp không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường hoàn hảo không có thuế.Jabbour và Yikang Liu (2006) đã chứng minh rằng với chính sách cắt giảm thuế cổ tức của chính quyền Bush năm 2003 đã có tác động đến chính sách của các công ty Mỹ.
Đặc biệt là những công ty có lợi nhuận càng cao thì càng chi trả cổ tức nhiều khi thuế cổ tức giảm.Jabbour và Yikang Liu cho rằng lợi nhuận là nhân tố duy nhất giải thích mối liên hệ giữa cổ tức và thuế suất.2 Tổng quan về chính sách thuế cổ tức: 1.1 Khái niệm: Thuế cổ tức là một loại hình của thuế thu nhập cá nhân mà một quốc gia đánh vào thu nhập cổ tức. Thuế suất của loại thuế này thay đổi theo từng quốc gia tùy thuộc vào tình hình kinh tế và chính trị ở quốc gia đó.2 Các tác động của thuế: Trong bối cảnh các quyết định cổ tức, các ảnh hưởng của thuế thường là lý do chính tại sao các doanh nghiệp quyết định mua lại cổ phần của mình thay vì chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Ở một số quốc gia như Mỹ chẳng hạn, trước khi thông qua luật điều chỉnh thuế 1986, thu nhập lãi vốn dài hạn chịu mức thuế suất thấp hơn thu nhập cổ tức. Tuy nhiên, luật 1986 đã bãi bỏ chênh lệch thuế suất giữa thu nhập lãi vốn và cổ tức.
Dù có thay đổi trong luật thuế, vẫn có một lợi điểm thuế (dù nhỏ 8 hơn) cho việc mua lại cổ phần so với cổ tức tiền mặt vì thuế đánh trên thu nhập lãi vốn có thể được hoãn đến thời điểm tương lai khi bán cổ phần, trong khi thuế đánh trên một lượng tương đương thu nhập cổ tức phải được trả ngay trong năm hiện hành. Dù chương trình mua lại cổ phần có vẻ như là cách được ưa thích để phân phối lợi nhuận của một doanh nghiệp, việc mua lại này thường bị cả cơ quan thuế ở các nước ngăn cản. Cụ thể, cơ quan thuế sẽ không cho phép một doanh nghiệp theo đuổi một chính sách mua lại cổ phần thường xuyên như một thay thế cho cổ tức tiền mặt, vì các kế hoạch mua lại chuyển cổ tức tiền mặt thành lãi vốn. Cơ quan thuế xem các mua lại cổ phần thường xuyên chủ yếu như tương đương với cổ tức tiền mặt và đòi hỏi các mua lại này phải bị đánh thuế tương ứng.
Ở một số quốc gia như Úc và NaUy ngăn cấm hoàn toàn các công ty mua lại cổ phần. Các nước Châu Âu đánh thuế rất cao mua lại cổ phần và xem chúng tương đương như cổ tức tiền mặt.3 Mối quan hệ giữa chính sách thuế cổ tức và chính sách chi trả cổ tức: Như đã nêu ở phần 1.3 “Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức”, ta đã thấy có rất nhiều quan điểm trái ngược nhau. Có ý kiến cho rằng không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ suất thuế thu nhập cổ tức với chính sách cổ tức, nhưng cũng có những ý kiến cho rằng giữa chính sách cổ tức và tỷ suất thuế thu nhập cổ tức có mối tương quan với nhau. Mối quan hệ đó còn bị chi phối bởi lợi nhuận trước thuế.
Như vậy, có rất nhiều nhân tố quyết định chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Thuế cổ tức là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không chỉ có thuế mà còn có rất nhiều những nhân tố khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách chi trả cổ tức. Vì thế, khi đi nghiên cứu sự tác động của thuế đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp, 9 chúng ta phải xem xét những nhân tố khác cũng đồng thời tác động đến chính sách chi trả cổ tức hàng năm.
Theo Fama và French (2001), chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp chịu tác động bởi 3 nhân tố: lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng và quy mô của công ty.Jabbour và Yikang Liu (2006) sau khi kiểm tra sự ảnh hưởng của 3 nhân tố này đến chính sách chi trả cổ tức rồi mới tiến hành nghiên cứu tác động của thuế suất cổ tức tác động đến chính sách chi trả cổ tức.Jabbour và Yikang Liu (2006) rút ra kết luận, những công ty có tỷ suất lợi nhuận càng cao thì càng tăng chi trả cổ tức khi thuế suất giảm.4 Tìm hiểu chính sách thuế thu nhập đánh trên cổ tức ở một số các quốc gia trên thế giới hiện nay: Hiện nay, trên thế giới có 2 quan điểm trái ngược nhau về áp dụng chính sách thuế lên thu nhập cổ tức mà các cổ đông nhận được. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đánh thuế thu nhập cổ tức, chỉ trong những trường hợp kinh tế khó khăn thì các nước này mới đưa ra những chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư trên TTCK. Ngược lại, một số quốc gia trên thế giới như Singapore, Malaysia, Hong Kong là không đánh thuế thu nhập cổ tức. Nguyên nhân về sự khác biệt này là do quan điểm cho rằng đánh thuế cổ tức là sự chồng chéo trong chính sách thuế, đánh thuế hai lần và đây là sự tận thu chưa công bằng.
Khi nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc họ là cổ đông hay chủ sở hữu của một doanh nghiệp. Vì vậy, khi doanh nghiệp chịu thuế TNDN cũng có nghĩa là nhà đầu tư đã phải chịu một lần thuế TNDN. Doanh nghiệp trả cổ tức nghĩa là doanh nghiệp trích một phần trong tổng thu nhập sau thuế của mình để trả cho những người có tên trong danh sách cổ đông, như vậy thì cổ tức đã phải chịu một lần thuế TNDN. Vậy thì khi cổ đông nhận 10 cổ tức và phải chịu thêm mức thuế cổ tức sẽ bị thuế chồng lên thuế và không đúng với thuế TNCN.
Việc phải chịu thuế tính trên cổ tức gây tâm lý bất bình cho các NĐT hơn là chi phí thuế mà họ phải gánh chịu. Ngược lại, nếu đánh thuế TNDN chính là đã đánh thuế vào chủ sở hữu của DN hay chính là cổ đông của công ty – các NĐT.