CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TÀI NGUYÊN 1. Những lý luận cơ bản về thuế tài nguyên 1. Khái niệm thuế tài nguyên Theo Robin Boadway và Frank Flatters, thuế tài nguyên là một phần của hệ thống thuế tổng thể, là cái tác động đến thu nhập của các doanh nghiệp. Hệ thống thuế này thường bao gồm thuế thu nhập trực tiếp của một tài nguyên nói chung, các kiểu thuế gián tiếp khác nhau bao gồm các loại thuế bán hàng và thuế tiêu thụ (excise tax) cũng như thuế xuất, nhập khẩu, và thuế đặc biệt, là loại thuế được thiết kế riêng cho các ngành công nghiệp tài nguyên.
Tuỳ theo các quan điểm quản lý, xác lập quyền sở hữu tài nguyên của quốc gia mà có cách quản lý và điều tiết đối với hoạt động khai thác tài nguyên dưới hình thức là một khoản thuế, hay là khoản thu trên quyền khai thác tài nguyên. Ở nước ta, việc điều tiết đối với hoạt động khai thác tài nguyên được ban hành dưới hình thức là một sắc thuế, áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác tài nguyên và có thể đưa ra dưới khái niệm như sau: Thuế tài nguyên là khoản thu của NSNN nhằm điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia, tạo nguồn thu NSNN, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. Đặc điểm của thuế tài nguyên - Thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý. Cũng như các loại thuế khác, thuế tài nguyên là một khoản thu của NSNN, mặc dù không phải là loại thuế đem lại nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhưng cũng đóng góp một phần không nhỏ, tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước.
Khoản thu này đối với người khai thác tài nguyên thiên nhiên do Nhà nước quản lý. 6 - Thuế tài nguyên được tính trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khai thác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên. Để thu thuế tài nguyên, Nhà nước tính thuế dựa trên sản lượng và giá bán sản phẩm tài nguyên mà không phụ thuộc và mục đích khai thác tài nguyên. - Thuế tài nguyên được cấu thành trong giá bán tài nguyên mà người tiêu dùng tài nguyên hoặc sản phẩm được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên phải trả tiền thuế tài nguyên.
Thuế tài nguyên là loại thuế gián thu, Nhà nước thu tiền thuế từ người khai thác tài nguyên, nhưng thực chất người tiêu dùng mới là người phải trả tiền thuế đó. Người khai thác tài nguyên tính toán số thuế tài nguyên phải nộp trên mỗi đơn vị tài nguyên khai thác, cấu thành trong giá bán sản phẩm tài nguyên cho người tiêu dùng. Vì lẽ đó, người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả tiền thuế tài nguyên. - Đối tượng nộp thuế (ĐTNT) tài nguyên là: Mọi tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc mục đích sử dụng tài nguyên.
Mọi tổ chức, cá nhân khai tác tài nguyên thiên nhiên, không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyên, đều phải nộp thuế tài nguyên để đảm bảo sự nhất quán, công bằng và tận thu thuế tài nguyên đóng góp vào nguồn NSNN. Vai trò của thuế tài nguyên - Công cụ điều tiết: Thuế tài nguyên là công cụ tài chính, thể hiện vai trò sở hữu nhà nước đối với tài nguyên quốc gia và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các tổ chức, cá nhân. Bên cạnh các công cụ quản lý hành chính như: Cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến,. thì thuế tài nguyên là công cụ hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, tăng thu NS, định hướng sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ nguồn tài nguyên và thân thiện với môi trường.
- Tạo điều kiện thuận lợi và kích thích phát triển kinh tế: Luật thuế tài nguyên chỉ quy định về mặt chính sách: đối tượng, phạm vi, căn cứ tính thuế, miễn giảm thuế; còn về kê khai, nộp thuế, xử lý vi phạm về thuế,…sẽ thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho 7 DN thực hiện kê khai, nộp thuế thống nhất về mặt thời gian, giảm chi phí hành chính thuế cho DN. Chính sách thuế đồng bộ sẽ tạo môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng. Áp dụng hệ thống thuế thống nhất không phân biệt giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư ổn định, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào ngành khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản, nâng cao giá trị tài nguyên khai thác, đảm bảo ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào của các ngành công nghiệp mũi nhọn cho quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Tài nguyên thiên nhiên thường có tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Việc phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân tại nơi khai thác tài nguyên; do vậy, Nhà nước có cơ sở để xây dựng chính sách phát triển kinh tế vùng, miền hợp lý hơn (giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi,.), giảm sự chênh lệnh về giàu nghèo, đảm bảo ổn định xã hội. Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống dân cư, thì số thu thuế tài nguyên cũng là nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại địa phương (xây dựng điện, đường, trường, trạm,.), nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nơi khai thác, phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nội dung quản lý thuế tài nguyên 1.
Nội dung của Luật Thuế tài nguyên ở Việt Nam Đối với thuế tài nguyên, ngày 25/11/2009, Quốc hội đã ban hành Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010. Luật Thuế tài nguyên năm 2009 được ban hành trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các quy định từ Pháp lệnh Thuế tài nguyên trước đây và đảm bảo thống nhất với hệ thống pháp luật khác như: Luật Khoáng sản; Luật Dầu khí; Pháp lệnh phí, lệ phí. Tiếp theo có Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. 8 Luật Thuế tài nguyên có phạm vi điều chỉnh về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, kê khai thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế tài nguyên với các nội dung chính sau: 1.
Đối tượng chịu thuế tài nguyên Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế tài nguyên thì đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các loại tài nguyên nhân tạo không thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên. Để phục vụ cho mục đích quản lý thuế, tài nguyên thiên nhiên được phân thành 10 nhóm như sau: - Khoáng sản kim loại: Gồm khoáng sản kim loại đen (sắt, mangan, ti tan.) và khoáng sản kim loại màu (vàng, đất hiếm, bạch kim, thiếc, won fram, đồng, chì, kẽm, nhôm. - Khoáng sản không kim loại, bao gồm: đất làm gạch; đất khai thác san lấp, xây dựng công trình; đất khai thác sử dụng cho các mục đích khác; đá, cát, sỏi, than,.
- Dầu thô: hydrocarbon ở thể lỏng trong trạng thái tự nhiên, asphalt, ozokerite và hydrocarbon lỏng thu được từ khí thiên nhiên bằng phương pháp ngưng tụ hoặc chiết xuất. - Khí thiên nhiên: là toàn bộ hydrocarbon ở thể khí, khai thác từ giếng khoan, bao gồm cả khí ẩm, khí thô, khí đầu giếng khoan và khí còn lại sau khi chiết xuất hydrocarbon lỏng từ khí ẩm. - Khí than: là hydrocarbon, thành phần chính là methane ở thể khí hoặc lỏng, được chứa trong các vỉa than hoặc trong các vỉa chứa lân cận. - Tài nguyên rừng tự nhiên: gồm các loại thực vật, động vật được phép khai thác là sản phẩm của rừng tự nhiên, như: gỗ, tre, nứa, giang, mây, vầu; các loại dược liệu và các loại thực vật, động vật được phép khai thác (trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tại khu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ).
9 - Hải sản tự nhiên: Các loại động vật, thực vật tự nhiên ở biển như: ngọc trai, bào ngư, hải sâm và các hải sản tự nhiên khác. - Nước thiên nhiên gồm: nước mặt (biển, hồ, sông, suối, kênh, rạch, ao, đập.); nước dưới đất. - Yến sào thiên nhiên. - Và các loại tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Do yêu cầu quản lý nhà nước đối với từng loại tài nguyên, nên các loại tài nguyên được quy định tại các văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Khoáng sản; Luật Dầu khí; Luật Đất đai. Vì vậy, công tác quản lý thuế tài nguyên cũng phải đảm bảo thống nhất, đồng bộ với các quy định tại các văn bản pháp luật đó. Người nộp thuế (NNT) tài nguyên NNT tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên, không phân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức, mục đích khai thác tài nguyên. NNT tài nguyên bao gồm: Công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, hợp tác xã, DN tư nhân, DN có vốn đầu tư nước ngoài hay bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khác có khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác bị bắt giữ, tịch thu và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải nộp thuế tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định.