Chương 1 đã giới thiệu về tổng quan đề tài nghiên cứu. Nội dung chương 2 bao gồm các cơ sở lý thuyết phục vụ cho đề tài, cụ thể là: - Lý thuyết về kiệt quệ tài chính - Lý thuyết về tránh thuế thu nhập doanh nghiệp - Các nghiên cứu thực nghiệm về tránh thuế và mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và tránh thuế thu nhập doanh nghiệp 2.1 Lý thuyết về kiệt quệ tài chính Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về kiệt quệ tài chính cũng như các dấu hiệu khác nhau để xác định kiệt quệ tài chính. Các quan điểm này có thể khác nhau theo thời gian thực hiện nghiên cứu, theo đặc điểm của thị trường được tìm hiểu, hoặc theo các giai đoạn kiệt quệ tài chính. Do đó, để có một cái nhìn tổng quát về kiệt quệ tài chính, trong phần này, tác giả sẽ lần lượt trình bày các quan điểm về kiệt quệ tài chính và các dấu hiệu nhận biết kiệt quệ tài chính trong các nghiên cứu thực nghiệm, các mô hình xác định tình trạng kiệt quệ tài chính cũng như những ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính lên công ty, ngành và nền kinh tế.1 Các quan điểm về kiệt quệ tài chính Theo lý thuyết kinh tế phổ biến, quan điểm về kiệt quệ tài chính là quan điểm cho rằng kiệt quệ tài chính là trạng thái mà một công ty đáp ứng một cách khó khăn hoặc thậm chí là không thể đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các chủ nợ.
Tuy nhiên, quan điểm theo lý thuyết kinh tế này lại có sự thay đổi qua các nghiên cứu khác nhau trên thế giới do các tác giả có sự khác nhau trong việc lựa chọn mẫu cho các mô hình của mình để để áp dụng vào các nghiên cứu về kiệt quệ tài chính. 6 Dựa trên lý thuyết, các công ty được giả định là hoạt động kinh doanh vĩnh viễn với mục tiêu cốt lõi là đạt được lợi nhuận. Theo đó, đối với tất cả các công ty bắt đầu sự tồn tại và hoạt động của mình, bên cạnh một số công ty có lợi nhuận và tiếp tục hoạt động bình thường thì một số công ty còn lại hoạt động không tốt, không có hoặc không thể đạt được mục tiêu lợi nhuận nên lâm vào tình trạng gọi là thất bại tài chính trong 2 năm đầu của vòng đời. Đối với các công ty có lợi nhuận, do đạt được mục tiêu nên tiếp tục hoạt động, tiếp tục tăng trưởng và mở rộng.
Tuy nhiên, điều này không đảm bảo và không có nghĩa rằng các công ty sẽ không bao giờ rơi vào kiệt quệ hay thất bại (Gitman, 1992). Theo đó, sự thất bại của các công ty có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và có những tác động khác nhau đối với các đối tượng và các bên liên quan tùy thuộc vào mức độ thất bại và hình thức thất bại. Sự khác biệt này là nguyên nhân dẫn tới các quan điểm về kiệt quệ tài chính trở nên lộn xộn (Wruck, 1990). Các công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, nếu không đề cập đến các công ty hoạt động tốt thì đối với các công ty hoạt động không tốt sẽ trải qua bốn gia đoạn khó khăn (Altman và Hotckis, 2005).
Trong nghiên cứu của mình, Altman và Hotckis (2005) cho rằng có bốn giai đoạn khó khăn các công ty sẽ gặp phải là: “thất bại”, “mất thanh khoản”, “vỡ nợ” , và “phá sản”. Tuy rằng các giai đoạn này không thể tách biệt hoàn toàn và đôi khi được sử dụng thay thế nhau nhưng chúng đều cho thấy các nội dung khác nhau và vấn đề cốt lõi muốn đề cập đến của “kiệt quệ tài chính”). Thất bại: Altman và Hotckiss (2005) cho rằng thất bại là “tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư và với các tỷ số khác để đánh giá rủi ro, là thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không đủ bù đắp chi phí của công ty”. Đánh giá về định nghĩa này, chúng ta có thể nhận định rằng mặc dù có doanh thu không đủ trang trải chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư thấp hơn so với tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì một công ty trong vẫn có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp.
Do đó, định nghĩa này thực sự chưa đầy đủ nên chưa 7 đủ cơ sở để phân loại một công ty đối mặt các tình huống ở trên như một công ty đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Wruck (1990) thì có quan điểm khác về thất bại đó là ông định nghĩa “thất bại” là việc dòng tiền của công ty không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính hiện tại. Các nghĩa vụ tài chính ở đây bao gồm thanh toán nợ đối với các nhà đã cấp tín dụng và thanh toán lương cho người lao động, hoặc thanh toán các chi phí từ gánh chịu tổn thất đối với quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng hoặc không thể hoàn trả nợ gốc và lãi vay. Tóm lại, quan điểm thất bại của Altman và Hotckiss (2005) là quan điểm về mặt kinh tế, quan điểm thất bại của Wruck (1990) là quan điểm về mặt tài chính.
Theo đó, một công ty vi phạm việc trả nợ là thất bại tài chính (Ở một quan điểm phổ biến khác, thất bại tài chính được định nghĩa là việc công ty bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ. Tuy nhiên, một công ty không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi công ty có giá trị tài sản ròng dương (Gaughan, 2011)), còn một công ty đang thua lỗ trong hoạt động kinh doanh là thất bại kinh tế. Bên cạnh đó, Andrade và Kaplan (1998) cho rằng việc phân biệt thất bại kinh tế và thất bại tài chính rất quan trọng vì đây cũng là hai mảng hoạt động chính của công ty. Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng thất bại kinh tế hay thất bại tài chính không đồng nghĩa với phá sản hay giải thể vì tất cả các công ty khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh thì đều sẽ trải qua thất bại tài chính và thất bại kinh tế, nhưng chỉ một số công ty trong số đó sẽ đi đến phá sản hay giải thể chứ không phải tất cả do các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp hoặc việc thất bại tài chính chỉ diễn ra tạm thời.
Mất thanh khoản: theo Shrader và Hickman (1993) thì một công ty được xem là mất thanh khoản là công ty không có đủ khả năng để thực hiện thanh toán các nghĩa vụ tài chính bao gồm cả các khoản nợ lương đối với người lao động, các khoản phải thanh toán đối với nhà cung cấp, các khoản nợ vay chủ nợ. Quan điểm này có sự tương đồng với định nghĩa thất bại tài chính của Whitaker (1999) và Wruck (1990) và nếu tìm hiểu kỹ thì chúng ta có thể thấy rằng Wruck 8 (1990) nhấn mạnh mặc dù mất thanh khoản là khác biệt so với thất bại tài chính nhưng 2 khái niệm này vẫn được sử dụng thay thế lẫn nhau. Có nhiều cách để phân loại tình trạng mất thanh khoản, theo Wruck (1990), Ross và cộng sự (2003) thì các nhà nghiên cứu kinh tế phân loại khái niệm mất thanh khoản thành 2 dạng là mất thanh khoản do giá trị và mất thanh khoản do dòng tiền: - Mất thanh khoản do giá trị là việc mất thanh khoản xảy ra trong trường hợp giá trị thị trường tổng tài sản của công ty nhỏ hơn so với giá trị các khoản nợ và do đó khái niệm này còn được coi là giá trị kinh tế ròng âm. Khái niệm này cho thấy khi cần xử lý các tài sản để đáp ứng nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ nợ thì thanh lý các tài sản sẽ không đủ.
- Mất thanh khoản do dòng tiền xảy ra trong trường hợp các công ty hoạt động nhưng không thể tạo ra tổng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ tài chính, dòng tiền từ đầu tư để đảm bảo và đáp ứng được nghĩa vụ tài chính hiện tại và do đó khái niệm này còn được gọi là mất thanh khoản kỹ thuật. Vỡ nợ : khác với thất bại và mất thanh khoản, Altman và Hotchkiss, (2005) đã đưa ra một khái niệm tài chính khác liên quan đến kiệt tài chính đó là “Vỡ nợ”. Các nhà nghiên cứu cho rằng vỡ nợ là tình trạng các công ty không có đủ tài chính, nguồn tiền để thanh toán được khoản nợ gốc, lãi đến hạn đối với các chủ nợ. Việc không thanh toán được các khoản nợ này như đã cam kết với các chủ nợ được coi như vi phạm các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký giữa các bên.
Khi đó, các chủ nợ sẽ thực hiện các hành động pháp lý như khởi kiện ra Tòa án kinh tế để yêu cầu các công ty trả nợ. Cũng tương tự như thất bại và mất thanh khoản, các nhà nghiên cứu cũng phân chia vỡ nợ ra nhiều hình thức để có cái nhìn chính xác hơn. Theo đó, Gilson và cộng sự (1990) và Altman và Hotchkiss (2005) phân chia khái niệm vỡ nợ ra làm 2 khái niệm nhỏ hơn là vỡ nợ thanh toán và vỡ nợ kỹ thuật: - Vỡ nợ thanh toán được hiểu là các công ty không thể thanh toán tất cả các khoản nợ gốc, lãi đến hạn đối với các chủ nợ. 9 - Vỡ nợ kỹ thuật được hiểu là các công ty vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận giữa công ty và các nhà cung cấp tín dụng trong các hợp đồng tín dụng hay khế ước nhận nợ đã ký.
Với việc định nghĩa vỡ nợ như trên thì rất nhiều người sẽ có sự nhầm lẫn giữa các công ty bị mất thanh khoản và các công ty trong tình trạng vỡ nợ. Để phân biệt hai tình trạng này thì chúng ta để ý tới thời điểm đáo hạn của các khoản nợ: - Một công ty được xem trong tình trạng mất thanh khoản có thể kéo dài từ đầu và chịu đựng trong thời gian dài. - Trong khi đó, một công ty được xem trong tình trạng vỡ nợ tại thời điểm đáo hạn của khoản nợ.