CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ CẤP HUYỆN 1. Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm và vai trò của thuế 1. Khái niệm, bản chất Thuế là một một phạm trù lịch sử, đồng thời cũng là phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan.
Để duy trì bộ máy, phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, quốc phòng - an ninh ., đòi hỏi mỗi Nhà nước phải có nguồn tài chính để phục vụ chi tiêu. Nguồn tài chính này là do có sự đóng góp mang tính bắt buộc của mọi thành viên trong xã hội. Theo Phriđrich Ăngghen: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người công dân cho Nhà nước” (14, tr. Do đó, với tiến trình phát triển của xã hội, Nhà nước xuất hiện, từ đó thuế ra đời, tồn tại và phát triển.
Xã hội ngày càng phát triển cho nên Nhà nước có thêm nhiệm vụ điều hành và quản lý nền kinh tế thì chi tiêu ngày càng nhiều hơn. Khi Nhà nước đảm nhận thêm công việc như: chăm lo đời sống, văn hoá xã hội của cộng đồng thì thuế được động viên càng lớn với nhiều sắc thuế ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế. Như vậy, khi vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước càng ngày được mở rộng, đòi hỏi nguồn tài chính của Nhà nước để phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên. Do đó, không thể thiếu sự đóng góp của các tổ chức kinh tế và cá nhân, đó là thuế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, giá trị sản phẩm thặng dư chuyển dịch từ lĩnh vực này tới lĩnh vực khác, từ thành phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác rất phức tạp và đa dạng. Đứng trên góc độ toàn xã hội, đòi hỏi mỗi Nhà nước phải có hệ thống thuế để điều tiết số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra cho công bằng và hợp lý. Vì vậy, xã hội càng văn minh thì thuế lại càng đa dạng và phát triển. Tóm lại, quá trình phát triển của Nhà nước cho chúng ta thấy, Nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn bó chặt chẽ với nhau.
Nhà nước tồn tại phải có thuế. Nhìn chung các quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh cụ thể của thuế, chưa phản ánh đầy đủ bản chất phạm trù này. Như vậy, có thể nêu lên khái niệm về thuế tổng quát như sau: “Thuế là một 5 khoản thu nhập bắt buộc từ các pháp nhân và thể nhân cho Nhà nước theo thời hạn và mức độ được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Đặc điểm của thuế Qua quá trình nghiên cứu về thuế, người ta thấy nó có những đặc điểm để phân biệt với các công cụ tài chính khác, cụ thể như sau: + Thuế là một khoản chuyển giao mang tính bắt buộc phi hình sự thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước: Đặc điểm này giúp phân biệt giữa thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN, vạch rõ nội dung kinh tế những quan hệ tiền tệ, chúng được hình thành một cách khách quan, có một ý nghĩa xã hội đặc biệt.
Kết quả của quá trình đó là một phần thu nhập của người nộp thuế được chuyển cho Nhà nước và không kèm theo một sự cấp phát hay những quyền lợi trực tiếp nào khác cho người nộp thuế. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, Nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực để bắt buộc mọi thành phần trong xã hội có thu nhập phải chuyển giao. Trong xã hội hiện nay, nhu cầu chi tiêu công cộng ngày càng tăng cao, để duy trì hoạt động thì phải có các khoản bù đắp đủ các chi phí bỏ ra. Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế là phi hình sự, các hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động khi có biểu hiện vi phạm pháp luật, mà là hành động thực hiện nghĩa vụ của công dân.
Đặc điểm này cho thấy thuế không giống như các hình thức huy động khác của NSNN như: hình thức phạt bằng tiền, công trái, lệ phí… Phạt bằng tiền cũng là hình thức bắt buộc, tuy nhiên việc phạt tiền chỉ xảy ra khi có hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng hay Nhà nước. Phí, lệ phí, công trái nói chung mang tính chất đối giá và tự nguyện. + Chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp: Thuế là khoản chuyển giao thu nhập không mang tính chất đối giá, nghĩa là số thuế mà người nộp chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên những lợi ích mà dịch vụ hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp mang lại. Người nộp thuế cũng không có quyền lợi yêu cầu Nhà nước cung cấp dịch vụ, hàng hóa trực tiếp cho mình thì mới chuyển giao thu nhập cho Nhà nước.
Mặt khác, mức độ cung cấp hàng hóa dịch vụ của Nhà nước cũng không nhất thiết phải ngang bằng mức độ 6 chuyển giao. Chuyển giao thu nhập nhiều hay ít căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và nhu cầu tài chính công của Nhà nước vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. + Chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp: Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý cao của thuế và phản ánh thu nhập được chuyển giao không mang tính chất tuỳ tiện. Thu nhập được chuyển giao dựa trên những cơ sở đã được pháp luật quy định và xác định trước trong các luật thuế, pháp lệnh thuế, cụ thể: đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, mức thuế phải nộp, thời gian phải nộp và những chế tài mang tính cưỡng chế khác.
+ Trong những thời kỳ nhất định, các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội: Những yếu tố kinh tế tác động thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình quân, giá cả thị trường, sự biến động của tỷ giá…. Yếu tố chính trị và xã hội tác động đến thuế là thể chế chính trị của Nhà nước, tập quán của tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa xã hội của dân tộc…Chính vì phải chịu sự ràng buộc của các yếu tố chính trị và xã hội, kinh tế…nên thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp. + Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản: Các luật về thuế chỉ có tác dụng đối với các hoạt động kinh tế và sự chuyển giao thu nhập trong phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, nơi mà quyền lực của Nhà nước được duy trì. Trong các hoạt động kinh tế quốc tế, các giao dịch diễn ra ở ngoài phạm vi biên giới quốc gia phải chịu sự chi phối của pháp luật nói chung, quy định về thuế nói riêng của nước ngoài.
Do đó, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình hệ thống thuế phù hợp với thông lệ quốc tế để thuận lợi cho các chủ thể kinh tế trong và ngoài nước. Tóm lại, từ những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế phần nào đã phản ánh nội dung bên trong và bản chất. Từ đó, giúp chúng ta phân biệt thuế với nhiều hình thức động viên của NSNN trên các phương diện khác nhau. Vai trò của thuế “Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước”: 7 Một chế độ Nhà nước muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo dựng một nền tài chính quốc gia vững chắc, trong đó nguồn tài chính chủ yếu được động viên đến từ thuế và phí ở nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong nền kinh tế có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, thuế được thống nhất áp dụng đối với các thành phần kinh tế không phân biệt kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân, nó bao quát và điều tiết các hoạt độngkinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi hoạt động tiêu dùng và mọi tài nguyên thiên nhiên. Chính sách về thuế có tác dụng bồi dưỡng nguồn thu lâu dài cho NSNN. Cơ chế về thuế suất không nên quá cao, quá phức tạp mà cần được nghiên cứu dựa trên những căn cứ khoa học, sự phát triển của nền kinh tế để phù hợp với khả năng đóng góp của đối tượng nộp thuế. Trên thực tế nếu hệ thống thuế hợp lý, mức thuế suất ở mức vừa phải sẽ nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, mức thuế hợp lý giúp người nộp thuế tự nguyện khai báo nộp thuế tốt hơn.
Tỷ lệ động viên về thuế cần tính toán dựa trên cơ sở khoa học, đầy đủ, bao gồm mọi khoản thuế, phí và lệ phí. Cần tránh tình trạng các ban ngành, địa phương tuỳ tiện đặt ra các khoản thu không đúng với quy định của Nhà nước. “Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế”: Thuế là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mở rộng lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chính sách thuế đặt ra không chỉ thực hiện chức năng quản lý, tạo nguồn thu cho NSNN, mà quan trọng hơn là điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Sự điều tiết của Nhà nước thông qua công cụ thuế gồm hai mặt: khuyến khích và hạn chế, được thể hiện trong việc xây dựng cơ cấu giữa các loại thuế, mối quan hệ giữa chúng để phù hợp với điều kiện thực tế. Những ngành nghề sản xuất kinh doanh phục vụ cho đa số quần chúng nhân dân thì nên áp dụng thuế suất thấp. Những ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế thì nên thu hẹp. Những ngành nghề ảnh hưởng đến sức khỏe, thuần phong mỹ tục thì áp dụng thuế suất cao.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể đều lựa chọn ngành nghề mang lại lợi nhuận cao mà không tính đến những hậu quả để lại sau quá trình sản xuất kinh doanh. Nhà nước sử dụng công cụ thuế để hướng các hoạt động sản xuất kinh doanh vào con đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho đất nước và nhân dân.