chương 1 giới thiệu được trình bày với bốn chương tiếp theo: Chương 2: Lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu trước, chương này giới thiệu khái quát các lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu. Tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài này trong chương 2, làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tế. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu, chương này trình bày khung phân tích, mô hình nghiên cứu, cỡ mẫu, các đặc điểm của mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, quy trình thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, chương này trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm, những kết quả nghiên cứu đạt được tương ứng với từng mục tiêu đề ra của nghiên cứu.
Và cuối cùng là Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách, sẽ trình bày những kết luận rút ra từ nghiên cứu, những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất kiến nghị cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ TUÂN THỦ THUẾ Chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về sự tuân thủ thuế như: nghĩa vụ thuế, khái niệm tuân thủ thuế và các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu trước liên quan đến sự tuân thủ thuế. Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế.
Nghĩa vụ thuế. Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì nghĩa vụ của người nộp thuế gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật. Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế. Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm.
Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế. Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế.
Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”. Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2004), nghĩa vụ thuế bao gồm bốn nghĩa vụ sau: (i) Đăng ký thuế; (ii) Khai thuế kịp thời và nộp các thông tin cần thiết về hồ sơ thuế; (iii) báo cáo đầy đủ, chính xác các thông tin (kết 5 hợp lưu giữ hồ sơ); (iv) nộp thuế đúng hạn. Nghĩa vụ thuế theo Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế không hoàn toàn giống nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung đều liên quan đến nội dung như: đăng ký thuế, kê khai thông tin, nộp tờ khai và nộp tiền thuế đúng hạn.
Tuân thủ thuế. Tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu. Quan điểm truyền thống cho rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ thuế, họ chỉ chấp hành nghĩa vụ thuế khi có sự cưỡng chế của cơ quan thuế (CQT) hoặc khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Vì vậy, cách tiếp cận tuân thủ thuế theo luật thuế chỉ có thể làm giảm mức độ trốn thuế chứ không thể hướng đến việc tăng cường tuân thủ thuế.
Khái niệm tuân thủ thuế còn thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia tranh luận về phương diện tuân thủ tự nguyện hay không tự nguyện. Một trong những mục tiêu được xem là cao nhất của quản lý thuế là tăng tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượng trốn thuế và tránh thuế. Hầu hết quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập trung xem xét tính tự nguyện chấp hành thuế. James và Alley (1999) đã đặt ra câu hỏi: sự “tuân thủ” có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp cưỡng chế hành chính, hoặc do cả hai thì điều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ, ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt đến 100% so với mức thuế phải nộp theo luật định.
Vì vậy, quan điểm hiện đại cho rằng cơ quan quản lý thuế sẽ thành công khi gia tăng được sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần sử dụng đến các hình thức kiểm tra, thanh tra, nhắc nhở hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác. Trên thế giới đã có nhiều quan niệm về tuân thủ thuế được đề cập đến, cụ thể: Theo Jeffrey Lloyd Hamm, B.S (1995) thì tuân thủ thuế được xác định theo cách sau: NNT khai báo hồ sơ khai thuế cần thiết tại thời điểm thích hợp và thực hiện chính xác nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế, các quyết định của tòa án. 6 Theo tổ chức OECD (2004) định nghĩa tuân thủ thuế: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời.
Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp”. Theo James và Alley (1999), “ tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế”. Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) : “sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. Nguyễn Thị Thanh Hoài và các thành viên (2011): Tuân thủ là việc chấp hành nghĩa vụ của NNT theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế.
Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Theo James và Alley (1999) các định nghĩa trên, tuân thủ pháp luật thuế của NNT về cơ bản là thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của NNT. Khi tuân thủ pháp luật thuế của NNT được nâng cao, rõ ràng, chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu quả, đạt được các mục tiêu mong muốn. Suy cho cùng, tính đúng đắn hay tiên tiến của chính sách thuế, tính hiệu quả của công tác quản lý thuế thể hiện rất rõ ở thực trạng chấp hành pháp luật thuế của NNT.
Như vậy, tuân thủ thuế là thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế theo đúng các quy định tại các luật thuế, NNT tự giác và có ý thức tuân thủ hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế của mình, CQT chỉ tuyên truyền, giáo dục, theo dõi, giám sát, kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế, ngăn chặn xử lý các hành vi không tuân thủ 7 thuế. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Nhân tố kinh tế: Nhân tố kinh tế liên quan đến tuân thủ thuế đề cập đến hành động có liên quan đến chi phí và lợi ích của việc thực hiện các hành động (Loo, 2006). Hasseldine (1993), và Song và Yarbrough (1978) giả định rằng người nộp thuế là trốn kinh tế hợp lý, người có khả năng sẽ đánh giá chi phí và /hoặc lợi ích trốn.
Các nhân tố quyết định sự tuân thủ thuế gắn liền với các nhân tố kinh tế như kiểm toán thuế và nhận thức của chi tiêu Chính phủ, khả năng tài chính, chi phí tuân thủ sẽ được tìm hiểu chi tiết hơn. Kiểm toán thuế. Một số nghiên cứu cho rằng các cuộc kiểm toán có tác động tích cực đến chuyện lảng tránh thuế (Jackson và Jaouen, 1989; Shanmugam, 2003; Dubin, 2004). Những phát hiện này cho thấy rằng trong các hệ thống tự đánh giá, kiểm toán thuế có thể đóng một vai trò không thể thiếu và vai trò thiết yếu của họ là tăng cường sự tuân thủ tự nguyện.
Tần số và tỉ mỉ của các cuộc kiểm toán có thể khuyến khích người nộp thuế phải cẩn trọng hơn trong việc hoàn thành tờ khai thuế, báo cáo tất cả các thu nhập và khẳng định việc trích chính xác để xác định nghĩa vụ thuế. Ngược lại, người nộp thuế chưa bao giờ được kiểm toán có thể bị cám dỗ để theo báo cáo thu nhập thực tế của họ và yêu cầu bồi thường các khoản khấu trừ sai. Theo OECD (2004), việc thường xuyên tổ chức công tác kiểm toán thuế có thể nâng cao mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Mặt khác, các hoạt động kiểm toán thuế sẽ giúp hỗ trợ và duy trì những quy tắc hiện hành do NNT nhận thức được rủi ro bị phát hiện.
Tuy nhiên, các nghiên cứu chứng minh cho dù chiến lược răn đe có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ và không tuân thủ của NNT, một số CQT đã báo cáo rằng các hoạt động ngăn chặn đã thực sự khích lệ NNT cư xử không tuân thủ trong những năm tiếp theo. Sự thành công của chiến lược răn đe cũng liên quan đến quy tắc ứng xử của NNT.