Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Những khái niệm có liên quan đến đề tài luận văn 1. Khái niệm, đặc điểm thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm Theo Đỗ Đức Minh, Nguyễn Việt Cường (2010): “Thuế thu nhập là loại thuế điều tiết trực tiếp thu nhập thực tế của cá nhân và tổ chức trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”.
Các sắc thuế thu nhập phổ biến trên thế giới là thuế thu nhập công ty (thuế thu nhập doanh nghiệp) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định. Đối tượng chịu thuế TNCN mà pháp luật các quốc gia hướng tới là thu nhập của các cá nhân trong xã hội (thông thường bao gồm cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh). Trong đó, TNCN có thể hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Thuế TNCN có lịch sử ra đời hàng trăm năm, được áp dụng lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN được lan truyền nhanh chóng sang các nước công nghiệp khác như Nhật Bản (1887), Mỹ (1913), Pháp (1914),…Một số nước Châu Á cũng bắt đầu áp dụng thu thuế TNCN từ giữa thế kỷ 20: Thái Lan (1939), Philipin (1945), Hàn Quốc (1948)… Đến nay, đã có hơn 180 nước áp 11 dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, văn bản pháp luật về thuế TNCN được ban hành lần đầu tiên ngày 27/12/1990 là Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây.
Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập đến mức phải chịu thuế của NNT, NNT đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác, cho nên tâm lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này so với các loại thuế gián thu. Thứ hai, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của NNT và liên quan đến số lượng lớn cá nhân trong xã hội. Thuế đánh vào cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh. Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN.
Thứ ba, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Khi tính thuế có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của NNT bằng việc quy định một số khoản được giảm trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế. Thứ tư, thuế TNCN mang tính luỹ tiến cao (thu nhập càng cao càng phải nộp thuế nhiều). Thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội.
12 Thứ năm, thuế TNCN không bóp méo, không tác động đến giá cả hàng hoá, dịch vụ, không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ. Thứ sáu, thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao. Thứ bảy, nguồn thu nhập chịu thuế đa dạng, phân tán và rất phức tạp, nhất là đối với các nước áp dụng hệ thống đánh thuế trên tổng thể (Global Income Taxes) cho nên Thuế TNCN đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và bao quát.
Thứ tám, chi phí hành thu của thuế TNCN thường rất cao, điều này làm cơ sở để áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả (Withholding at source), đó cũng là một biện pháp để giảm chi phí hành thu. Thuế TNCN là một loại thuế phức tạp. Việc quản lý thuế, thu thuế đòi hỏi trình độ, kỹ thuật cao, chi phí quản lý thuế lớn. Cơ quan quản lý thuế phải nắm được các nguồn thu nhập của người chịu thuế, tình trạng cư trú, vv… 1.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư của một quốc gia đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn thành lập trên lãnh thổ của một quốc gia khác để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Nhiều nước trên thế giới không phân biệt vốn đầu tư trong nước với vốn đầu tư nước ngoài và bởi vậy, không có khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; họ gọi các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức tổ chức pháp lý của chúng, ví dụ: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. 13 Thuật ngữ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chính thức được sử dụng trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (trước đó gọi là xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Theo đó thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có các đặc trưng sau: 1) Doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc một phần của nhà đầu tư nước ngoài; 2) Được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam trên cơ sở giấy phép đầu tư do cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài cấp; 3) Có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam; 4) Được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Hiện nay, Việt Nam đang thí điểm chuyển một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần. Luật Đầu tư 2020 không đề cập trực tiếp loại hình doanh nghiệp này mà chỉ định nghĩa một cách khái quát tại Khoản 17 Điều 3 như sau: “ Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.” [16,tr2] Như vậy, theo quy định này, ta có thể hiểu một cách cơ bản, doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm: – Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. – Doanh nghiệp có cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài đầu tư (góp vốn thành lập, mua vốn góp).
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có các đặc trưng sau: 1) Doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc một phần của nhà đầu tư nước ngoài; 2) Được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Thực hiện trên cơ sở giấy phép đầu tư do cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài cấp. 14 3) Có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam; 4) Được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Quản lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân Trước tiên, ta phải hiểu quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật từ ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.
QLNN mang tính toàn diện, bao quát tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội ở khắp mọi miền đất nước. QLNN thực chất là quản lý tất cả các ngành, nhưng do tính chất đặc điểm khác nhau của từng vùng lãnh thổ nên cách thức và phương pháp quản lý những vấn đề ngành có thể khác nhau. Tuy nhiên QLNN các vấn đề trên tất cả các lĩnh vực đồi hỏi vừa đảm bảo tính thống nhất vĩ mô trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia, nhưng đồng thời có tính đến yếu tố đặc trưng của từng lãnh thổ. Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất.
Về nội dung, quản lý bao gồm các việc như xây dựng kế hoạch xắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động. Về phạm vi tác động và hình thức thể hiện, quản lý là một phạm trù rộng, để tiến hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều chức năng, trong đó có chức năng lãnh đạo. Về phương thức tác động, quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình đã định trước. Như vậy: Quản lý nhà nước về thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được mục tiêu nhà nước đặt ra.Ngoài ra, thông qua hoạt động quản lý, 15 Nhà nước đảm bảo cho Luật thuế TNCN ngày càng hoàn thiện và đi vào đời sống xã hội.
Hoạt động quản lý thuế TNCN chủ yếu do cơ quan thuế thực hiện, tuy nhiên bên cạnh đó cần có sự phối hợp của các cơ quan hữu quan, các cấp, các ngành và của toàn cộng đồng xã hội. Quản lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm, mục tiêu quản lý nhà nước về thuế thu nhập cá nhân của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.