PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Ngành Thuế Việt Nam được thành lập từ năm 1945, trãi qua hơn 75 năm hình thành và phát triển, Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Thuế không chỉ là nguồn thu quan trọng và chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, mà còn là công cụ điều tiết tầm vĩ mô thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy, thuế đóng một vai trò cực kỳ to lớn đối với quốc gia.
Đặc biệt trong công tác quản lý thu thuế đã góp phần tích cực hoàn thành các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đề ra. Số thu qua các năm đã vượt mức dự toán được Quốc hội, Chính phủ giao, năm sau cao hơn năm trước, góp phần đảm bảo cân đối thu - chi của Nhà nước. Tổng thu do ngành Thuế quản lý tăng dần qua các năm, đến nay đã chiếm hơn 80% so với tổng thu NSNN. Ở nước ta, thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước, mà đặc biệt là thuế giá trị gia tăng.
Quản lý Nhà nước bằng công cụ thuế dựa trên hệ thống chính sách thuế đảm bảo cho Nhà nước có một nguồn thu ổn định, đáp ứng được yêu cầu điều tiết vĩ mô của nền kinh tế, tạo môi trường bình đẳng, thúc đẩy sự cạnh tranh, phát triển nền kinh tế thị trường, đồng thời tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Châu Thành là một huyện nằm ở phía nam sông tiền trực thuộc tỉnh rất nhỏ so với huyện, thành phố khác trong tỉnh, kinh tế phát triển chủ yếu là nông nghiệp số thu về thuế nhỏ. Tuy nhiên, thuế GTGT của các DN đã đóng góp một phần không nhỏ trong tổng số thu của ngân sách tỉnh. Hầu hết các DN đã và đang ngày càng được mở rộng, đa dạng hình thức kinh doanh, ngành nghề hoạt động.
Song với mức độ, tính chất hoạt động đa dạng, phức tạp, chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn các DN thực hiện còn tùy tiện, chưa đúng chế độ, dẫn đến tình hình khai man, trốn thuế còn nhiều như: Thủ tục thành lập DN rất đơn giản, từ đó dẫn đến DN thành lập nhiều để mua bán hóa đơn, khai số liệu không giống nhau giữa các hóa đơn GTGT, hoàn thuế,. hồng để chiếm đoạt tiền thuế của NSNN. Tuy nhiên trong 1 công tác quản lý thuế GTGT vẫn còn gặp một số khó khăn, hạn chế do NNT chưa hiểu rõ về thuế giá trị gia tăng là gì, ý thức chấp hành nghĩa vụ kê khai thuế, nộp thuế cũng như ý thức trong việc góp phần tham gia chống thất thu thuế chưa cao. Đây là nguồn thu lớn cho Ngân sách nhà nước nhưng việc quản lý thuế giá trị gia tăng đối với khu vực này còn đang gặp phải khó khăn như tình trạng kê khai sai gian lận thuế, trốn thuế làm thất thu thuế, nợ đọng thuế khá phổ biến, công tác quản lý thuế vẫn còn kém hiệu quả.
Hiện nay, do chính sách thuế thông thoáng nên một số DN trên địa bàn lợi dụng kẻ hở để kê khai gian lận, tìm cách trốn thuế hoặc xin hoàn thuế để chiếm đoạt tiền thuế của NSNN như: Thành lập DN ma để cấu kết mua bán hóa đơn bất hợp pháp để xin được hoàn thuế GTGT, mốc nối thông đồng với cán bộ quản lý thuế, kê khai sai thuế suất, mua bán không có hàng hóa thật, hạch toán sổ sách kế toán không trung thực,…từ đó dẫn đến nghĩ vụ thuế thực hiện không công bằng, bình đẳng với nhau giữa các DN trên địa bàn, làm ảnh hưởng không tốt đối với các DN nước ngoài đang đầu tư vào Việt Nam, gây thất thoát và thiệt hại cho nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển. Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả chọn đề tài “Đánh giá công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp" làm đề tài nghiên cứu để bảo vệ luận văn thạc sĩ ngành quản lý kinh tế. Các công trình nghiên cứu có liên quan (trong và ngoài nƣớc) Công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng là một hoạt động quản lý Nhà nước của cơ quan thuế các cấp, nhằm đảm bảo thi hành pháp luật về thuế với mục đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN. Trên thế giới, mỗi quốc gia do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên chính sách thuế GTGT được áp dụng cũng có những đặc điểm khác nhau, chính vì thế công tác quản lý thu thuế GTGT cũng khác.
Công trình nghiên cứu ngoài nƣớc Từ trước đến nay có nhiều nghiên cứu ngoài nước về thuế đối với khu vực tư nhân tập trung vào việc xác định “thuế tối ưu” nhằm xác định khả năng thu thuế cho nhà nước hiệu quả nhất và tính toán ảnh hưởng của thuế đến sự biến động giá, hành 3 vi của cá nhân. Các chính sách ưu đãi thuế cho lĩnh vực tư nhân lại được quan tâm nhiều hơn, đặt ra các câu hỏi về việc liệu thuế có bóp méo cạnh tranh hoặc gây ra các đối xử không công bằng về thuế giữa các khu vực khác nhau của nền kinh tế? Cùng với đó, chủ đề về chính sách thuế đối với các hoạt động của DN ở các nước phát triển, đang phát triển cũng được đề cập nhiều, cụ thể: - Baungaard và Keen (2005), chỉ ra rằng hiệu quả của việc thực thi thuế VAT liên quan đến việc chi tiêu các nguồn lực vào việc truy tố và xử phạt, cùng với hiệu quả giám sát, thu thập và xử lý thông tin. - Emran và Stiglitz (2005) cảnh báo rằng lợi ích phúc lợi từ việc chuyển sang VAT là nghi vấn trong sự hiện diện của một khu vực phi chính thức lớn. - Heru Iswahyudi (2018), với bài viết “Where has the money gone? The case of value added tax revenue performance in Indonesia”, khám phá có ba yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất của thu VAT là chính sách chi tiêu thuế, sự không tuân thủ của người nộp thuế và tỷ trọng tiêu dùng tổng hợp trong nền kinh tế.
- Ian Crawford, Michael Keen, and Stephen Smith (2019), với bài viết “Value Added Tax and Excises”, Nghiên cứu các vấn đề thiết kế chiến lược sẽ định hình quá trình tương lai của chính sách thuế VAT và các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt. Michael Keen and Stephen Smith (2017), với bài viết “VAT Fraud and Evasion: What Do We Know, and What Can be Done?”, mô tả các hình thức không tuân thủ chính sách đặc biệt với thuế VAT, xem xét cách giải quyết và đánh giá mức độ bằng chứng nhằm giúp ngăn chặn các hình thức dễ bị trốn tránh và gian lận khi đóng thuế VAT, đặc biệt khi áp dụng cơ chế tín dụng và hoàn trả - Joshua Aizenman and Yothin Jinjarak (2005), đánh giá nền kinh tế chính trị và các nhà cấu trúc giải thích hiệu quả thu thập, của thuế GTGT, cho rằng tính hiệu quả thu thập được xem xét bởi các cân nhắc kinh tế chính trị phân cực lớn hơn và sự bất ổn chính trị sẽ làm giảm hiệu quả của việc thu thuế. Công trình nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, thuế là chủ đề nghiên cứu được đề cập rất đa dạng. Nhiều nghiên cứu về thuế xoay quanh các chủ đề như xác định cơ sở thuế, mức thuế, chính sách 4 ưu đãi cũng như quản lý thuế,.
Một số công trình nghiên cứu về một sắc thuế cụ thể như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: - Nguyễn Thị Thùy Dương (2011) với đề tài “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” luận án Tiến sĩ nghiên cứu đã chỉ rõ các tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, quan hệ với các nhân viên quản lý thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản lý đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành. - Nguyễn Văn Nhuận (2014), với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các Doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”, luận văn thạc sĩ nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận và quản lý thuế GTGT. Tuy nhiên các giải pháp đề xuất chưa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản lý thu thuế ở Việt Nam hiện nay. - Phan Chí Nam (2014) nghiên cứu về công tác quản lý thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Cục thuế tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm Thị Mai (2016) với nghiên cứu “Nghiên cứu hiệu quả quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình”. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác về công tác quản lý thuế giá trị gia tăng, quản lý thuế như. Nhìn tổng thể, các nghiên cứu này được thực hiện công phu, là tài liệu tham khảo rất có giá trị. Mặc dù vậy, do nghiên cứu dựa trên nhiều văn bản pháp luật nên điểm hạn chế chung của các nghiên cứu này là dù đã có nhiều sửa đổi quan trọng chưa được cập nhật lại.
Ngoài ra, khi tập trung vào các vấn đề thuế nói chung, ở khu vực kinh tế cụ thể đòi hỏi hướng nghiên cứu gắn với đặc trưng của từng thành phần kinh tế thì các tài liệu này chưa đề cập một cách đầy đủ. - Lê Thị Hòa với bài nghiên cứu điều tra “ Giải pháp chống gian lận trong hoàn thuế GTGT” đăng trên Tạp chí tài chính tháng 7/2014 đã chỉ ra những thủ đoạn để gian lận thuế giá trị gia tăng trong hồ sơ hoàn thuế, nhấn mạnh đến những kẽ hở trong công tác quản lý sử dụng hóa đơn, quản lý doanh thu dẫn đến thất thoát cho ngân sách nhà nước. Bài nghiên cứu chỉ đề cập tới một góc độ của công tác quản lý thuế là đề cập đến hoàn thuế GTGT. 5 - Trần Đại Nghĩa (2014) nghiên cứu về “Quản lý thu thuế giá trị gia tăng của cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh” giai đoạn 2008- 2012.
- Vũ Thị Lan Phương (2015) trong nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DNTN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”.