Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể Chương 2: Phƣơng pháp thiết kế và nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An Chương 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Đô Lƣơng, tỉnh Nghệ An 4 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là công tác quản lý khá phức tạp, còn xảy ra nhiều bất cập trên nhiều địa bàn trong cả nƣớc, do đó vấn đề này đã thu hút tƣơng đối nhiều sự quan tâm nghiên cứu. Có thể kể ra một số đề tài nghiên cứu liên quan đã công bố sau đây: - Đề tài cấp Viện Khoa học Tài chính "Đổi mới và hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam" (Nguyễn Thị Mai Hƣơng, 2003). Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã khái quát thực trạng công tác quản lý thuế ở Việt Nam và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế trên 2 góc độ: thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý thu thuế và thực trạng công tác hành thu.
Từ phân tích kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số nƣớc trên thế giới và thực trạng của Việt Nam, đề tài rút ra một số bài học kinh nghiệm và nêu ra các giải pháp khá phù hợp với Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài chƣa đề cập đến đƣợc một số vấn đề lý thuyết cơ bản nhƣ khái niệm quản lý thuế, nội dung và các phƣơng thức quản lý thuế. Một số nhận xét về cải cách quản lý hành chính thuế ở một số nƣớc trên thế giới đƣợc tác giả nêu ra là phong phú nhƣng các bài học cho Việt Nam chƣa rõ. Các giải pháp chƣa có tính đột phá để cải thiện về cơ bản công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay.
Đặc biệt là cho đến nay hệ thống văn bản chính sách thuế đã đƣợc cập nhật, thay đổi bổ sung rất nhiều lần, nên một số nội dung thời điểm đó tác giả nghiên cứu nay không còn phù hợp nữa. - Luận văn thạc sỹ ''Một số biện pháp hạn chế thất thu thuế GTGT đối với các hộ kinh tế cá thể thu thuế theo phương pháp trực tiếp trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang'' (Nguyễn Công Tú, 2007) 5 z Tác giả đã đi sâu nghiên cứu lý luận về thuế GTGT và tập trung phân tích đánh giá thực trạng thất thu thuế GTGT đối với HKD cá thể nộp thuế theo phƣơng pháp trực tiếp trên doanh thu tại địa bàn huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang. Nguyên nhân của thực trạng thất thu thuế GTGT theo nhƣ tác giả tổng hợp xuất phát từ yếu kém trong công tác tuyên truyền để ngƣời dân hiểu và ý thức thay đổi thói quen mua bán hàng hóa dịch vụ không có hóa đơn; yếu kém trong công tác thanh tra, kiểm tra của CQT tạo ra kẽ hở để HKD lợi dụng vi phạm trong thực hiện ghi chép sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ, khai man doanh thu,. Từ đây tác giả đƣa ra các kiến nghị, đề xuất giải pháp khá phù hợp với tình trạng thất thu thuế GTGT đối với HKD nộp thuế theo phƣơng pháp trực tiếp.
Tuy vậy, nhƣ tên đề tài đã nêu, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các biện pháp nhằm chống thất thu thuế GTGT đối với HKD cá thể nộp thuế theo phƣơng pháp trực tiếp, giới hạn trên địa bàn huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang. Tác giả không đề cập đến thất thu đối với các sắc thuế khác, và cũng không nghiên cứu đối tƣợng là HKD nộp thuế theo phƣơng pháp khoán thuế. - Luận án tiến sỹ “Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Thị Thùy Dƣơng, 2010) Đóp góp của luận án là từ lý luận chung về quản lý thuế, luận án đã chỉ rõ, trong điều kiện hội nhập, các tiêu chí để đánh giá một hệ thống thuế tốt phải xét đến mối quan hệ giữa CQT với NNT, quan hệ với các nhân viên quản lý thuế, những tiêu chí về lập pháp, những đặc điểm về quản lý, đảm bảo tính linh hoạt trong điều hành. Luận án cũng chỉ ra những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến quản lý thuế, bao gồm gia tăng hợp tác thuế giữa các nƣớc, thúc đẩy cạnh tranh thuế, thay đổi chính sách thuế và quản lý thuế, đặc biệt tăng cƣờng đối phó với hiện tƣợng trốn và tránh thuế quốc tế.
Tuy vậy, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của tác giả khá rộng do đó nhiều vấn đề chƣa đƣợc quan tâm và nghiên cứu sâu. Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì loại hình kinh tế tổ chức, doanh nghiệp chịu sự ảnh hƣởng và tác động nhiều nhất, rõ nhất vì thế tác giả đã dành sự tập trung nghiên cứu quản lý thuế 6 z cho khu vực kinh tế này, trong khi khu vực kinh tế cá thể mà cụ thể là hộ kinh doanh tác giả ít đề cập đến hoặc đang đề cập chung chung. - Tạp chí Thuế nhà nƣớc “Quản lý thuế khi mở cửa thị trường thương mại, dịch vụ” (Nguyễn Vân Chi, 2011) Bài viết của tác giả đề cập về những tác động đến khả năng quản lý thu NSNN khi mà thƣơng mại dịch vụ quốc tế ngày càng gia tăng và trở thành tiềm năng lợi nhuận, lợi thế cạnh tranh đặc quyền của các tập đoàn đa quốc gia. Vấn đề xác định phạm vi đối tƣợng chịu thuế, xác định giá trị tính thuế, hay mối liên hệ giữa kinh doanh dịch vụ quốc tế và nghĩa vụ thuế đƣợc tác giả bàn luận khá sâu sắc tại bài báo, qua đó giúp những ngƣời quan tâm có cái nhìn đầy đủ và thực tế hơn.
Tuy nhiên, cũng nhƣ một số công trình nghiên cứu khác, đối tƣợng nghiên cứu của tác giả cơ bản tập trung vào công tác quản lý thu ngân sách đối với NNT là các tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động thƣơng mại dịch vụ quốc tế, riêng về hộ kinh doanh thì hầu nhƣ chƣa đề cập đến. - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai” (Nguyễn Công Thạch, 2013) Nghiên cứu đề tài này tác giả đã luận giải khá sâu sắc về vai trò của hộ kinh doanh cá thể và sự cần thiết phải QLT đối với HKD cá thể. Thực trạng về công tác quản lý thuế HKD cá thể đƣợc tác giả phân tích, đánh giá dựa trên khảo sát thực tế tại địa bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Đây là một huyện mới đƣợc thành lập chƣa lâu của tỉnh Gia Lai, ngƣời dân đa số là ngƣời dân tộc thiểu số nên trình độ dân trí còn thấp.
HKD số lƣợng ít, vốn ít, nằm rải rác phân tán ở tất cả các địa bàn xã, thị trấn. Cơ bản HKD ở đây trình độ thấp nên hiểu biết về pháp luật cũng nhƣ ý thức chấp hành pháp luật rất hạn chế; Về phía cơ quan quản lý thuế, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý thuế còn sơ sài; cán bộ, công chức quản lý thuế thiếu về số lƣợng và yếu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ…. Tuy nhiên, những giải pháp hoàn thiện QLT đối với HKD mà tác giả đề xuất chỉ thực sự cần thiết và khả thi trên địa bàn huyện Phú Thiện, phù hợp cho các địa bàn 7 z huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số trong cả nƣớc, còn với địa bàn vùng đồng bằng, thành thị thì những giải pháp đó đối với đa số không còn là điểm mới nữa. Nhƣ vậy, nhìn chung các đề tài nói trên đã nghiên cứu những vấn đề liên quan công tác quản lý thuế.
Tuy nhiên, mỗi đề tài có một cách tiếp cận khác nhau, một đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Những kiến nghị đề xuất chủ yếu mới nghiên cứu để tháo gỡ những vấn đề bất cập trƣớc mắt với đối tƣợng nghiên cứu, chƣa có tính dự báo lâu dài, và cho đến thời điểm hiện tại nhiều nội dung giải pháp đề xuất không còn phù hợp nữa. Ở địa bàn huyện Đô Lƣơng (Nghệ An) QLT đối với HKD cá thể mặc dù đã đạt đƣợc một số thành tựu nhất định nhƣng bên cạnh đó vần còn bộc lộ nhiều hạn chế thu hút sự quan tâm của các ban ngành liên quan. Cho đến nay chƣa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này.
Chính vì vậy việc chỉ ra các hạn chế, nguyên nhân và giải pháp để nâng cao công tác QLT đối với HKD cá thể trên địa bàn huyện Đô Lƣơng là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao. Những vấn đề cơ bản về thuế và hộ kinh doanh cá thể 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Khái niệm về thuế: Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nƣớc và sự phát triển tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nƣớc sử dụng thuế nhƣ một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Lịch sử càng phát triển hệ thống pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trƣờng, các khoản đóng góp của ngƣời dân cho Nhà nƣớc đƣợc xác định và đƣợc quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nƣớc. Khái niệm chung nhất về thuế nhƣ sau: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nƣớc, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nƣớc ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho NNT, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội. 8 z Đặc điểm về thuế: Thuế có những thuộc tính tƣơng đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trƣng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Gồm những đặc trƣng sau: Thứ nhất, thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nƣớc mang tính quyền lực, tính cƣỡng chế, tính pháp lý .