Chương 1: Những van dé lý luận về quản lý thuế và pháp luật quản lý thuế trong nên tỉnh tế thị [rưỜng. Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế trong nên tỉnh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tron? nên kinh tế thị trường ở Việt Nam. 10 CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE QUAN LY THUE VA PHÁP LUAT QUAN LY THUE TRONG NEN KINH TE THỊ TRUONG 1.
Những van đề lý luận về quan ly thuế 1. Khải niệm quản lý thuế Hiện nay còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như: kinh tế học, hành chính học, luật học, xã hội học. đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành.
Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học, “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng dé cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quan lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [22, tr. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu nước ngoài: “Quản lý là tổ chức va lãnh đạo các nguồn lực nhằm đạt được kết quả mong muốn” [78, tr. Định nghĩa này đề cập và nhắn mạnh vào mục tiêu của hoạt động quản lý là kết quả mà hoạt động quản lý cần đạt tới. Đối tượng cụ thể của quản lý ở đây là các nguồn lực có trong một tổ chức, co quan, DN hay một quốc gia.
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã dé ra của t6 chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung” [22, tr. Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở các tài liệu khác: “Quản lý là sự tác động cớ ý thức dé chỉ huy, điều hành, hướng dan các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người dé hướng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [28, tr. Hoặc “Quan lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra.
các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quan lý với chi phí thấp nhất” [29, tr.136] Qua các giải thích trên cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết. Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra. Ngoài ra, khi sử A ~. ` <8 ` , ` , a a SA K bá ` "A - dụng thuật ngữ này người ta còn có hàm y bao gom cả mục tiêu, kêt quả và hiệu nang II hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất và chi phí thấp nhất chứ không chi là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần.
Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn với quyền lực nhà nước. Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả, ở những mức độ nhất định có sự tham gia các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của nhà nước. Qua nghiên cứu sự ra đời, tồn tại và phát triển của thuế cho thấy, thuế là phạm trù kinh tế khách quan luôn gắn liền với nhà nước.
Khi Nhà nước xuất hiện làm phát sinh các nhu cầu chi tiêu, để thoả mãn các nhu cầu chỉ tiêu, nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để tham gia vào việc phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt ra chế độ thuế khoá buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp - phương thức động viên tài chính đầu tiên trong lich sử đó là thuế. Do yêu cầu chi tiêu của nhà nước ngáy một tăng, ngoài việc huy động nguồn tài chính từ thuế, nhà nước còn sử dụng một số hình thức huy động khác như phát hành công trái, thu phí, lệ phí. Nhưng thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu của các nhà nước trong các chế độ xã hội có nha nước. Như vậy, thuế được sinh ra từ nhà nước, tồn tại dựa vào quyền lực nhà nước và nhằm thoả mãn phan lớn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Bởi vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế đã trở thành hoạt động tất yếu của nhà nước. Quan hệ thu nộp thuế không chỉ là quan hệ quyền lực và nghĩa vụ mà nó còn là quan hệ lợi ích phát sinh giữa nhà nước với các tô chức, cá nhân trong xã hội. Vì vậy, thư nộp thuế bao giờ cũng là quan hệ khá phức tạp. Không những thế, hoạt động thu thuế của nhà nước còn nhằm mục đích hiện thực hóa các mục tiêu của hệ thống chính sách thuế như: tác động đến thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng dẫn tiêu dùng và điều hoà thu nhập dân cư đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.
Tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của thuế, nên các nhà nước luôn luôn phải tìm ra phương thức quản lí sao cho có hiệu quả nhất đê nhằm đạt được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò của thuế trong đời sống thực tiễn. Nếu nhà nước không quan lí thuế hoặc quản lí kém hiệu quả đều gây ra những hệ qua xấu cho nhì nước và cho toàn xã hội. Cụ thé: Nhà nước không thể có nguồn tài chính lớn dé tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời, sẽ nảy sinh nhiều hiện tương tiêu cực trong xã hội như: tham ô, hối lộ, móc ngoặc, để thất thu hoặc lạm thu; 12 hoặc sẽ xảy ra tình trạng gian lận, trốn thuế, nợ đọng thuế. tạo ra sự không công bằng, bình đăng trong thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, không đảm bảo kỷ cương xã hội, nhà nước không thể thực hiện vai trò quan lý và điều tiết nền kinh tế - xã hội, lợi ích của nhà nước và của tổ chức, cá nhân chân chính đều có thể bị xâm hại.
Chính vì thế, quản lý thuế là hoạt động cần thiết, quan trọng luôn được nhà nước và cả xã hội quan tâm. Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm hóa như sau: “Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của nhà nước trong lĩnh vực thuế? [16, tr. “Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [33, tr. “Quản lý thuế liên quan đến cách thức mà các luật thuế được thực thi, liên quan đến sy tác động qua lại giữa co quan quản lý thuế và người nộp thuế, là cách thức mà ở đó sự tuân thủ được thúc đây và cưỡng chế bởi cơ quan thuế” [91].
“Quản lý thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tic động của các co quan thuế lên các tổ chức và công dan nhằm bảo đảm và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách day đủ, tự nguyện va đúng thời hạn trong điều kện môi trường quan lý thuế luôn biến động” [44, tr. Theo Luật Quản lý thuế Trung Quốc: “Quản lý thuế là một chuỗi các hoạt động bao dém mục tiêu thu NSNN bao gồm: quan lý đăng ký thuế, quan lý số sách chứng từ, quan ly khai báo nộp thuế, truy thu tiền thuế, kiểm tra thuế và đảm bảo trách nhiệm pháp lat về thuế” [16, tr18]. từ khảo lược các quan niệm trên đây, vấn đề đặt ra là cần tiếp cận khái niệm quản lý thuế theo hai phạm vi: Theo nghĩa rộng, quản lý thuê là tất cả các hoạt động của nhà nước liên quan đến thuế. Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào NSNN mà còn bao gồm hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, lan hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của céc tổ chức thụ hưởng NSNN.
Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc t) chức, quản lí, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác đó là 13 hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thê là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho nhà nước tir các tô chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác địuh tiong các luật thuế. Điều 3, Luật Quản lý thuế hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế [69]. Điều luật này cho thấy nhà lập pháp Việt Nam xác định quản lý thuế theo nghĩa hẹp. Tuỳ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu mà định nghĩa về quản lý thuế sẽ được tiếp cận ở những phạm vi khác nhau.