Chương 1 ĐẢNG BỘ HÀ TÂY LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1995 1.1 Quan niệm của Đảng về kinh tế tư nhân và tình hình kinh tế tư nhân ở tỉnh Hà Tây trước năm 1991 1. Quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Ở các nước theo nền kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân được coi là một trong những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế tư nhân. Phát triển kinh tế tư nhân có nhiều tác dụng :tạo ra động lực cho sản xuất kinh doanh, duy trì cạnh tranh giúp nền kinh tế trở nên năng động hơn, đa dạng hóa các chủ thể tham gia thị trường, góp phần khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lao động xã hội… Kinh tế tư nhân gắn với sở hữu tư nhân nên có thể truyền lại cho thế hệ sau tài sản, kiến thức, kinh nghiệm, từ đó tạo ra động lực phát triển kinh tế không ngừng.
Kinh tế tư nhân có vị trí và tác dụng như vậy, nhưng ở nước ta, có lúc do nôn nóng, chúng ta đã vội cải tạo và muốn xóa bỏ nó trong một thời gian ngắn. nên kinh tế tư nhân đã trải qua nhiều nước thăng trầm. Từ khi có nhận thức mới của Đảng ta về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, thì kinh tế tư nhân đã được thừa nhận, và trên thực tế, thành phần kinh tế này đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền kinh tế của đất nước nhất là trong thời gian gần đây. Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, thuật ngữ “kinh tế tư nhân” chưa được sử dụng mặc dù các ông nghiên cứu rất nhiều về chế độ tư hữu, về kinh tế cá thể, về sản xuất tư bản tư nhân, về kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, về sản xuất hàng hóa nhỏ, chủ nghĩa tư bản tư nhân, thương nghiệp tư nhân v.v…Tuy sử dụng bằng các ngôn từ khác nhau song có thể hiểu KTTN 9 z dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ở các mức độ khác nhau.Mác cho rằng : “Chế độ tư hữu, với tư cách là cái đối lập với chế độ sở hữu xã hội và tập thể, chỉ tồn tại ở nơi nào… mà những điều kiện bên ngoài của lao động là của tư nhân.Nhưng hình thưc của chế độ tư hữu thay đôi tùy theo những tư nhân ấy là người lao động hoặc người không lao động”.
Như vậy, cơ sở của KTTN là chế độ tư hữu tư liệu sản xuất đúng như lời của Mác: “Nền kinh tế cá thể, kết quả của chế độ sở hữu tư nhân”. Chế độ tư hữu không thể tách rời việc cá nhân kinh doanh và cạnh tranh,đó cũng là đặc trưng của kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân gắn liền với vấn đề sở hữu. Sở hữu là quan hệ giữa con người và con người, trong quá trình sản xuất, phản ánh quá trình chiếm hữu của cải vật chất mà sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định.
Nó là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến đổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội. Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân cho thấy, hình thức điều tiết tự nhiên của các hoạt động kinh tế tư nhân là cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường hiện đại là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là mô hình tổ chức doanh nghiệp - sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường - tự nó lớn lên trong cơ chế thị trường nên nó có một sức sống mạnh mẽ. Ngược lại, bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa nhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tư nhân như là một tự nhiên.
Ở nước ta, tư duy về vị trí , vai trò của kinh tế tư nhân gắn liền với quá trình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và do nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ chỗ là một khu vực kinh tế phải “cải tạo” đến được công nhận (nghị quyết Trung ương 6 khóa VI ngày 29/3/1989, chính thức sử 10 z dụng khái niệm kinh tế tư nhân) được khuyến khích phát triển, được xem là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và khẳng định phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa; được xác định rõ vị trí góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế (Nghị quyết trung ương 5 khóa 9 tháng 3/2002). Đại hội X của Đảng (4/2006) đã khẳng định: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Nhấn mạnh: “các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định huớng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật , cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.
Về chỉ đạo, Đại hội X quyết định: “Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Đồng thời xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi của các loại hình doanh nghiệp của tư nhân) phát triển không hạn chế qui mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực , kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm”; Về đối tượng tham gia vào khu vực kinh tế tư nhân, đã mở rộng hơn: “Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ sở, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin”. Về chính sách phát huy các nguồn lực, Đại hội X chủ trương : “khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân , các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sở hữu với hình thức cổ phần”. Trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), khu vực kinh tế tư nhân là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa, không được pháp luật bảo vệ và khuyến khích phát triển.
Nhưng vì khu vực kinh tế quốc doanh 11 z và kinh tế tập thể không đủ thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội của đất nước, nên khu vực kinh tế tư nhân còn cần thiết cho nền kinh tế, vì vậy vẫn âm thầm tồn tại dưới dạng kinh tế phụ gia đình (của các hộ cán bộ công nhân viên nhà nước và các hộ xã viên hợp tác xã). Các tổ hợp tác, tổ hợp sản xuất núp bóng doanh nghiệp nhà nước hoặc hợp tác xã (thực chất là những loại hình kinh tế tư nhân khác nhau) để hoạt động vì lợi ích dân sinh. Tuy mức độ và phạm vi hoạt động còn hạn chế nhưng các hình thức kinh tế tư nhân cũng đã thực sự góp phần tăng thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận lớn cán bộ, công nhân viên, xã viên các hợp tác xã, giảm bớt căng thẳng cho nền kinh tế thời bây giờ. Một vấn đề đặt ra là cần xem xét lại vị trí, thực chất và mối quan hệ của các thành phần kinh tế này để có những quyết sách phù hợp hơn trong nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI (1986) đã ghi vào văn kiện: “Trong nhận thức cũng như trong hoạt động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất”, do đó “đã có những biểu hiện nôn nóng muốn xóa bỏ ngay các thành phần phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư nhân thành quốc doanh”.[19, 46] Có thể nói, tư tưởng đổi mới đã manh nha từ Hội nghị TU lần thứ 6 (khóa IV, 1979), khi Đảng ta thấy được những trở ngại, khó khăn, lực cản của cơ chế cũ đối với sự tăng trưởng kinh tế và tới việc nâng cao mức sống của nhân dân. Nhưng lúc đó, chủ yếu mới là đổi mới trong sự kiểm điểm, trong những mong muốn, những bước thử nghiệm vạch lối tìm đường. Đến Đại hội VI của Đảng, việc phát triển kinh tế tư nhân mới chính thức được chấp nhận, và được khuyến khích đầu tư phát triển thông qua các chính sách được ban hành tiếp theo. Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời nhìn 12 z nhận, đánh giá lại và chấp nhận sự phát triển của kinh tế tư nhân như một tất yếu khách quan, kịp với xu thế chung của khu vực và thế giới.
Đảng Cộng sản Việt Nam, bằng trí tuệ và quyết tâm của Đại hội VI đã quyết định đổi mới nền kinh tế của đất nước. Công cuộc đổi mới này nhằm đưa nền kinh tế của đất nước. Công cuộc đổi mới này nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái, bế tắc và khủng hoảng. Thực chất của sự đổi mới kinh tế là sự chuyển kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội.
Nội dung của công cuộc đổi mới kinh tế là thừa nhận một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, khôi phục và cho phép các thành phần kinh tế. Đại hội đã chỉ ra sai lầm trong việc xóa bỏ thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa và các thành phần kinh tế là một nội dung trọng tâm của đổi mới kinh tế. Đảng ta chấp nhận quy luật tăng thêm giá trị, vận dụng nó trong một nền kinh tế thị trường, là một tiến trình kinh mà trong đó có sự xuất hiện sống động của kinh tế tư nhân.