Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tặng cho quyền sử dụng đất và pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất Chương 2: Thực trạng pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất và thực tiễn tặng cho quyền sử dụng đất qua thực tế tại Tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất tại Tỉnh Quảng Ninh Luan van 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái niệm, đặc điểm về tặng cho quyền sử dụng đất 1. Khái niệm, đặc điểm về quyền sử dụng đất 1. Khái niệm quyền sử dụng đất Khi nói đến quyền sở hữu đất đai, chúng ta thấy với tƣ cách là đại diện chủ sở hữu, nhà nƣớc có đầy đủ các quyền chiếm hữu sử dụng và định đoạt đất đai.
Trong các quyền năng đó quyền sử dụng là có ý nghĩa thực tế lớn nhất, trực tiếp đem lại lợi ích cho chủ sở hữu. Nhƣng nhà nƣớc không phải là chủ thể trực tiếp sử dụng đất mà gián tiếp sử dụng thông qua các tổ chức, cá nhân trong xã hội bằng cách giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất cho những ngƣời sử dụng đất trực tiếp. Thực vậy, quyền sử dụng đất trƣớc hết chúng ta phải hiểu đƣợc đây là một quyền tự nhiên, khi con ngƣời chiếm hữu đất đai, thì họ sẽ thực hiện hành vi sử dụng đất mà cụ thể là khai thác tính năng sử dụng của đất đai mà không quan tâm đến hình thức sở hữu của nó. Thông qua hành vi sử dụng đất mà con ngƣời có thể thỏa mãn những nhu cầu của mình cũng nhƣ làm ra của cải cho xã hội.
Chẳng hạn: + Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đất đai đƣợc xem nhƣ là tƣ liệu sản xuất quan trọng nhất và không thể thiếu. Nhờ việc thực hiện quyền sử dụng đất mà ngƣời sử dụng đất đã khai thác nguồn lợi trực tiếp từ đất đai. Nếu nhƣ không có đất đai, thì lao động của con ngƣời không thể sản sinh ra lúa, gạo để phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu thƣờng ngày. Khi xác định mối quan hệ giữa lao động và đất đai, C.
Mác cho rằng: "Lao động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nhƣng không phải là yếu tố duy nhất tạo ra của cải vật chất. Lao động phải kết hợp với đối tƣợng lao động mới sản xuất ra của cải vật chất" (Nguyễn Đức Khả 2003) + Trong cuộc sống, đất đai là nơi trú ngụ của con ngƣời, nhờ có đất đai và thông qua hành vi sử dụng đất, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, con ngƣời mới có thể tồn tại, nhƣ đi lại, vui chơi, lao động, nghỉ ngơi. Nếu nhƣ không có đất đai thì không Luan van 7 có cuộc sống của con ngƣời. + Thông qua hành vi sử dụng đất trong các lĩnh vực quản lý, kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, con ngƣời mới tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần để thúc đẩy sự phát triển chung của nhân loại.
Ngoài ra, quyền sử dụng đất đƣợc xem nhƣ là một quyền năng pháp lý, quyền năng này đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Ở đây chúng ta đi sâu phân tích quyền sử dụng đất dƣới góc độ chính trị - pháp lý. Nhƣ chúng ta đã biết, kể từ Hiến pháp 1980 ra đời, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nƣớc vừa là ngƣời đại diện chủ sở hữu vừa là chủ quản lý đối với đất đai. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1987, trên thực tế Nhà nƣớc ta chƣa xác lập đƣợc một cách đầy đủ quyền sở hữu chủ của mình đối với đất đai, đặc biệt là đất đai đang thuộc quyền chiếm hữu, sử dụng của các tổ chức, hộ gia đình cá nhân.
Việc khẳng định, tuyên bố chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở trong giai đoạn này chỉ là một cuộc cải cách trên văn bản pháp quy. Ngƣời đang sử dụng đất cảm thấy "đột ngột" vì mình không phải là sở hữu chủ thửa đất nhƣng lại thấy dƣờng nhƣ chẳng mất mát gì vì mình vẫn đƣợc quyền khai thác sử dụng đất đai vốn không còn thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng trong giai đoạn này các quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất chƣa đƣợc quan tâm thỏa đáng, pháp luật mới chỉ chú trọng đến lợi ích của Nhà nƣớc mà chƣa có giải pháp cho quyền lợi của ngƣời đang sử dụng đất vốn là chủ sở hữu trƣớc đó. Thực trạng này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến ngƣời sử dụng đất không chủ động khai thác hết tiềm năng của đất đai, tạo ra sự khủng hoảng kinh tế nông nghiệp ở nƣớc ta trong những năm đầu của thập niên 1980.
Ngày 29/12/1987, Quốc hội thông qua Luật đất đai gồm 6 chƣơng 57 điều. Đây là bƣớc khởi đầu cho việc xác lập mối quan hệ giữa Nhà nƣớc với tƣ cách là ngƣời đại diện chủ sở hữu về đất đai và ngƣời sử dụng đất. Luật đã quy định một cách cụ thể, có hệ thống nghĩa vụ và quyền lợi của ngƣời sử dụng đất. Với những quy định này, chế định về quyền sử dụng đất đƣợc hình thành, nó đƣợc xây dựng trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, quyền sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc ghi nhận nhƣ là một Luan van 8 hình thức thể hiện của chủ sở hữu mà Nhà nƣớc là ngƣời đại diện.
Nhà nƣớc giao đất, ghi nhận cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất để khai thác công dụng và hƣởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai. Thực tế, Luật đất đai năm 1987 bƣớc đầu đã tạo cơ sở pháp lý để phát huy quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, thiết lập đƣợc một sự ổn định nhất định trong việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên, do có sự tác động của cơ chế thị trƣờng, nhu cầu sử dụng đất ngày càng trở nên bức xúc, trong khi Nhà nƣớc vừa không chú trọng đến các yếu tố kinh tế của đất đai vừa nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhƣợng đất đai dƣới mọi hình thức, tạo nên một lực cản cho sự vận động, chuyển dịch của quyền sử dụng đất, làm kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nƣớc. Trƣớc tình hình đó, Hiến pháp 1992 và Luật đất đai năm 1993 ra đời, đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong việc quy định quyền của ngƣời sử dụng đất, một mặt pháp luật tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý, thừa nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của ngƣời sử dụng đất, mặt khác, pháp luật đã thực sự quan tâm đến quyền của ngƣời sử dụng đất, đó là ghi nhận ngƣời sử dụng đất hợp pháp có quyền chuyển quyền sử dụng đất, bao gồm các quyền: chuyển nhƣợng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này không phải là hoàn toàn tự do mà phải tuân theo những điều kiện do Nhà nƣớc đặt ra. Nhƣ vậy, trong giai đoạn này quyền sử dụng đất của ngƣời sử dụng đất đã đƣợc mở rộng hơn, có thể nói Nhà nƣớc đã "trao" cho ngƣời sử dụng đất "quyền định đoạt số phận pháp lý của thửa đất sử dụng trong một khuôn khổ nhất định", nhờ đó ngƣời sử dụng đất ngoài việc có quyền khai thác sử dụng đất đai của mình còn có thể chủ động thực hiện chuyển quyền sử dụng đất đó cho ngƣời khác khi không có nhu cầu hoặc điều kiện sử dụng đất. Đây là điểm đột phá lớn nhất của Luật đất đai năm 1993, tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển thị trƣờng quyền sử dụng đất, làm cho ngƣời sử dụng đất phát huy tối đa hiệu quả kinh tế mang lại từ đất. Từ đó, cùng với việc pháp luật thừa nhận đất đai có giá bằng việc Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất, quyền sử dụng đất đất đã đƣợc xem nhƣ là một quyền tài sản, có thể trị giá đƣợc bằng tiền, nhờ đó mà ngƣời sử dụng đất có thể đƣa quyền sử dụng đất của mình vào tham gia các giao dịch dân sự.
Luật đất đai năm 1993 khẳng định ngƣời sử dụng đất có quyền chuyển nhƣợng Luan van 9 sử dụng đất và nay luật đất đai 2013 ghi nhận chính thức chuyển tặng cho quyền sử dụng đất tuy nhiên không thể đồng nhất quyền sở hữu đất đai với quyền sử dụng đất bởi chúng có sự khác nhau về cả nội dung, ý nghĩa cụ thể. - Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trƣớc), còn quyền sử dụng đất là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi đƣợc nhà nƣớc giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất. - Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng đất lại không trọn vẹn, đầy đủ. Bởi vì, thứ nhất, ngƣời sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng nhƣ Nhà nƣớc với tƣ cách là đại diện chủ sở hữu; thứ hai, không phải ngƣời nào cứ có quyền sử dụng đất hợp pháp là có đủ 05 quyền tại Luật Đất đai năm 1993, sau đó mở rộng đến 10 quyền tại Luật Đất đai năm 2003 và 08 quyền tại Luật Đất đai năm 2013.
Luật đất đai 2013 có sự phân biệt giữa các chủ thể sử dụng đất. (Luật đất đau năm 1993) (Luật đất đai năm 2003) (Luật đất đai năm 2013) Nhƣ vậy, chế định quyền sử dụng đất đƣợc xem nhƣ là một hình thức thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Theo đó, Nhà nƣớc với tƣ cách là đại diện chủ sở hữu, có quyền định đoạt toàn bộ đất đai trên phạm vi toàn quốc và về mặt pháp lý, Nhà nƣớc có đầy đủ ba quyền năng của chủ sở hữu theo luật định. Tuy nhiên, Nhà nƣớc lại không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai mà thông qua quyền định đoạt tối cao của mình cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất bằng các hình thức giao đất, cho thuê đất, thừa nhận việc sử dụng đất ổn định hoặc công nhận quyền sử dụng đất đƣợc xác lập bởi các hành vi chuyển quyền sử dụng đất hợp pháp.
Tùy thuộc vào các hình thức khác nhau mà Nhà nƣớc quy định cho họ đƣợc hƣởng những quyền và thực hiện những nghĩa vụ khác nhau.