Chương 1: Cơ sở lí luận quản lý NTTC từ đất đai Chương 2: Thực trạng quản lý NTTC từ đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý NTTC từ đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định 9 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN THU TÀI CHÍNH TỪ ĐẤT ĐAI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN THU TÀI CHÍNH TỪ ĐẤT ĐAI 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm đất đai Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, là tài sản quốc gia, địa bàn để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng; là nguồn nội lực để xây dựng và phát triển quốc gia. Đất đai là tài nguyên hữu hạn, cố định về vị trí, giới hạn về không gian. Đất đai là một di n tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó: bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, d ng địa hình, nước mặt (hồ, sông, nước ngầm, tập đoàn th c vật và động vật) tr ng thái định cư của con người, những kết quả do ho t động của con người trong quá khứ và hi n t i để l i (Đoàn Công Quỳ và cộng sự, 2006). [28] Đất đai đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của loài người.
Không có đất thì không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người [8]. Trong kinh tế chính trị học, đất đai được đánh giá là một nguồn lực quan trọng để tìm kiếm sự giàu có cho một dân tộc, một quốc gia. Địa tô hay lợi nhuận thu được từ đất đai đã được hình thành như một lý thuyết kinh tế chính trị học về đất đai. Khái niệm tài chính Tài chính là hệ thống quan hệ kinh tế biểu hiện trong lĩnh vực hình thành và phân phối quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm xây dựng và phát triển xã hội.
Theo quan điểm của P. Drake (1980) tiếp cận tài chính theo hai quan điểm. Theo nghĩa hẹp, tài chính đơn thuần phản ánh hoạt động thu, chi tiền tệ của Chính phủ. Theo nghĩa rộng thì tài chính phản ánh các khoản vay và cho vay ảnh hưởng đến mức cung tiền trên thị trường [8].
Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới dạng tiền tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài chính hay định chế tài chính. Tóm lại, có hai quan điểm chính về tài chính, quan điểm thứ nhất, đưa ra khái niệm về tài chính dựa vào hoạt động tài chính của chính phủ và quan điểm thứ hai đưa ra khái niệm về tài chính trên cơ sở vốn dưới dạng tiền tệ, cụ thể: Quan điểm 1: Tài chính phản ánh hoạt động thu – chi của Chính phủ; hoặc phản ánh các khoản vay và cho vay. Quan điểm 2: Tài chính là vốn dưới dạng tiền tệ; tức là sự tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ để đáp ứng nhu cầu khác nhau. Khái niệm nguồn thu tài chính từ đất đai Nguồn thu tài chính được hiểu là các nguồn tiền tệ (hoặc tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền) trong nền kinh tế có thể huy động để hình thành nên các quỹ tiền tệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Khi nói tới NTTC, người ta quan tâm xuất xứ từ đâu, thuộc sở hữu của ai [10]. Nguồn thu tài chính hiểu một cách khái quát nhất là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ được hình thành trong quá trình tạo lập và sử dụng các 1 quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng các yêu cầu chi tiêu bằng tiền để thực hiện quá trình tái sản xuất các mặt hoạt động của các chủ thể trong xã hội. Nguồn thu tài chính được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, nó tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành và các chủ thể thực hiện. Trong tổng thể các nguồn thu tài nguyên thì nguồn thu từ đất đai chiếm vai trò rất quan trọng và mức độ ảnh hưởng của nguồn lực từ đất đai phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, lãnh thổ [16].
Lịch sử phát triển của loài người đã làm thay đổi căn bản các phương thức sử dụng, khai thác nguồn lực từ đất đai. Đất đai từ vị thế là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, qua quá trình phát triển ngày càng được nhìn nhận ở những vị trí, vai trò khác nhau, nhất là vai trò của đất đai trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Đất đai xuất hiện như là một loại hàng hóa đặc biệt, được xem là vật ký quỹ tốt nhất trong nền kinh tế thị trường phát triển [17]. Đất đai là nguồn thu kinh tế cơ bản và quyết định của hoạt động kinh tế.
Vì vậy đất đai cũng như các nguồn lực kinh tế khác phải mang quan hệ kinh tế, đồng thời vận động theo những quy luật và cơ chế kinh tế thích ứng [11]. Tài chính và NTTC phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội mà đặc trưng là biểu hiện của quan hệ phân phối, tuy nhiên, bản chất của sự phân phối là phân phối giá trị. Do đó, nó chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế thị trường vì nền kinh tế thị trường mới có khả năng biến đổi nguồn lực này trở thành hàng hóa. Nguồn thu tài chính từ đất đai là NTTC được hình thành từ nguồn thu đất đai thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong một xã hội nhất định và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu của xã hội đó.
Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát: NTTC từ đất đai là NTTC 1 được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường, hiểu một cách thuần nhất là có sự xuất hiện của thị trường đất đai (thị trường bất động sản). Những khoản thu tài chính từ đất đai Theo Luật Đất đai năm 2013 [25], các khoản thu tài chính từ đất đai bao gồm: - Tiền sử dụng đất là số tiền mà người sử dụng đất phải trả cho Nhà nước khi được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người SDĐ nộp tiền sử dụng đất khi được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất mà phải nộp tiền sử dụng đất; - Tiền thuê đất là số tiền mà người sử dụng đất phải trả cho Nhà nước khi được Nhà nước cho thuê đất. Hình thức trả tiền thuê đất: trả tiền thuê đất hàng năm, trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; - Thuế sử dụng đất là một khoản nộp vào ngân sách nhà nước mà người sử dụng đất thực hiện trong quá trình sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế.
Thuế sử dụng đất gồm: Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất). Đối tượng nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất, được Nhà nước giao quyền sử dụng đất. - Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai là khoản tiền mà người SDĐ phải nộp cho Nhà nước khi có hành vi phạm quy định pháp luật về đất đai và bị xử phạt vi phạm hành chính về đất đai. - Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai là khoản tiền người quản lý đất đai, người SDĐ phải nộp khi có hành vi vi phạm gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai.
1 - Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai. + Nộp lệ phí trước bạ khi: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tặng cho; Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ. + Nộp phí khi Cấp giấy chứng nhận QSDĐ; Khai thác và sử dụng dữ liệu đất đai; Thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. - Các khoản thu tài chính về đất đai cấp huyện ngân sách địa phương hưởng 100% được quy định tại Luật Ngân sách nhà nước, Thông tư 342/2016/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật ngân sách nhà nước, gồm: * Các khoản thu tiền SDĐ (giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, bán tài sản là nhà ở và QSDĐ) - Tiền sử dụng đất; - Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước * Các khoản thu thuế: - Thuế sử dụng đất nông nghiệp; - Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; * Các khoản phí: - Phí thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất * Các khoản lệ phí: - Lệ phí trước bạ; - Lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1 * Các khoản khác: - Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính về đất đai - Thu tiền bồi thường cho nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai; Như vậy, phần lớn các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100%.
Riêng Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển quyền sử dụng đất thuộc nhóm các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Luật Đất đai quy định Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không do đầu tư của người sử dụng mang lại thông qua chính sách thuế, tiền SDĐ, tiền thuê đất. Các khoản thu tài chính từ đất đai là nguồn ngân sách quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng [19]. Bản chất và đặc điểm của nguồn thu tài chính từ đất đai Đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thực hiện các quyền năng chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Các nguồn thu từ đất là hệ thống các mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước với đối tượng SDĐ, được pháp luật quy định.